Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Ai Ơi! Học Lấy Chữ Đồng.


Đánh dấu kỷ niệm khai sinh blog trên Yahoo 360, ngày 28 -12 - 2008
           
Tất thị là sao THIÊN ĐỒNG. Có nghĩa là thiên về chữ Đồng, tuy nhiên các chú ba thường viết chữ thiên với nghĩa là trời. Các chú càng làm rối trí bao nhiêu càng tốt  bấy nhiêu. Vả lại các chú học truyền khẩu là chính.

Đồng âm.
            Là cùng một âm thanh giống nhau. Hội nghị Diện Hồng, vua hỏi, nên hoà hay nên đánh? Tất cả đều hô vang “quyết chiến”. Từ đồng âm đưa đến sự nhất trí khi nhận xét 1 vấn đề. “Oi! tài chưa kìa”, tất cả đều nói như vậy. “Xấu quá trời ạ”... nhất trí về 1 vấn đề gì đó, không phải Đồng Âm là nhất trí 1 điều tốt, đẹp. Có người lại hiểu lầm luôn luôn là tốt.

Đồng ấu, nhi đồng...
            Tại sao người xưa lại không đặt tên sao là Thiên Nhi, Thiên Ấu lại gọi là THIÊN ĐỒNG tất cả các từ này đều nói về con nít, trẻ con. Vì từ Đồng hàm những ý khác mà từ nhi, từ ấu không có. Ngay cả từ Đồng thôi vẫn chưa đủ nghĩa, vì thế nó còn kèm tên riêng là Phúc.

Đồng bạc, đồng tiền...
            Đồng có nghĩa là giống nhau, tương đương với, ngang nhau....   Như ngang sức ngang tài. THIÊN ĐỒNG đi với THIÊN LƯƠNG ngôi sao lương thực. Khi ta đưa 1 hoá vật để trao đổi với lương thực. Có nghĩa hoá vật đó giá trị ngang lương thực. Từ đó, đồng tiền ra đời. Ta chỉ đoán đồng tiền, đồng bạc khi thấy 2 sao này mà thôi. Nằm cùng 1 phía mới hay. chứ xung chiếu nhau chứng tỏ buôn bán.
            Trong đời thường ta còn nghe. Đồng tiền vấy máu, đồng tiền bất chính, đồng tiền tội lỗi... Mấy ông bác sĩ còn doạ “40% virus lây lan qua đồng tiền”. Nói vậy, đưa tiền ông vẫn cứ lấy.

Đồng bào, đồng chủng, đồng loại. đồng hương. đồng quận...
            Các từ trên mang ý cùng 1 bào thai, cùng chủng tộc, cùng loài người, cùng quê hương. Cho nên THIÊN ĐỒNG chủ cùng nhau, cùng chung, cùng giống nhau 1 điểm nào đó. Khi cần người ta nói: Hỡi ! đồng bào... Có nghĩa là ta và các người là cùng một mẹ sinh ra. Chao ôi! nghe rất là thích, ta gọi là đồng cảm, đồng tình. Và khi cần người ta còn nói. Nào là đồng chí, đồng môn (cùng ra vào chung 1 cái cổng, ngày nay hiểu là bạn cùng trường. Khi nghiên cứu Tử Vi phải hiểu đang ở vào thời đại ấy), đồng tộc, đồng song (từng cùng ngồi cạnh nhau bên song cửa, chứng tỏ rất là thân, cùng ăn cùng ở...), đồng nghiệp...  các từ rất thân tình nhưng khi sợ  dễ trở thành “đồng phạm”, “đồng bọn”, “đồng loã”... chắc chắn nói rằng “KHÔNG ĐỒNG...”... Bởi thế ông THIÊN KHÔNG lắm chuyện, đang nói chuyện đồng, đồng. Có ổng lại móc thêm chữ không đằng trước.  Hoặc nói Bất Đồng là có ông CỰ MÔN. Hoá ra mọi việc không giản dị.
            Cứ ngỡ...
            Anh cùng em sống đến đầu bạc răng...  đu đưa. Ai ngờ, đưa nhau ra toà hỏi ông chánh án. CỰ MÔN là gì? Ông chánh án mặc dù học chữ Nga, Pháp, Anh. Chữ Hán... tự ...học lấy. Phán câu xanh dờn. Một trong 2 người có người ra khỏi cửa. Bằng không cũng “đồng sàng dị mộng”. Cũng từ đây. Ta lại có, tam cùng (tức tam đồng) cùng ăn, cùng ở, cùng làm, nhưng cùng chung mà cách biệt. Thâm chí không đội trời chung. Hoá ra chữ đồng là cùng nhau, giống nhau phức tạp không giản dị. Vì cũng cùng nhau nhưng cùng nhau ra toà với nhiều lý do khác nhau. Cùng nhau gặp Diêm vương lại hỏi. Tui với hắn sinh khác nhau ngày sinh tháng đẻ, khác nhau cả nơi sinh. Tui chưa gặp hắn lần nào nhưng lần đầu tiên gặp nhau tại nơi đây? Diêm vương lạnh nhạt trả lời. “Cùng chung tai hoạ đừng có nhiều chuyện, tuy khác nhau nhiều điểm nhưng cùng chạy như bay vèo vèo. Thế là có điểm giống nhau đấy”. Thê thảm nhất là cùng chung chiến hào bị bắn lén sau lưng.

Đồng bóng. Lên đồng. Đồng thiếp.
            Là các từ ta thường nghe về đạo mẫu, thờ thánh mẫu Thiên Y A Na  Có ngốc mới đoán tất cả các THIÊN ĐỒNG theo đạo này... nhưng các THIÊN ĐỒNG thường bốc đồng nay thích cái này mai thích cái khác cho hợp với ngôi sao thời cơ là THIÊN CƠ bên tam hợp. Bao giờ cũng thế căn bệnh nặng nhẹ còn tuỳ thuộc vào bộ sao thần kinh, các bộ sao tam Ám nhiều hay ít. Chợt vui, chợt giận làm tê tái lòng.

Đồng bộ, đồng thời... đồng khởi.
            Chao ôi! không có gì hay bằng đồng bộ, máy móc chạy nhịp nhàng. Đầu vào đầu ra mọi cái đều thông suốt. Thế là từ đồng bộ, chữ đồng chuyển qua chữ “thông” nhưng lại nằm trong đề tài khác. Đồng thời còn một ý rất hay là hợp với thời cơ. Và thời bây giờ là mỗi người phải có máy điện thoại di động. Số di động của anh là mấy? Làm cứ như luật pháp bắt mỗi người phải có 1 máy di động không bằng.
            Đồng khởi là cùng khởi sự, bắt đầu cùng 1 lúc. Trong quân sự người ta luôn luôn dùng chiến thuật này. Cùng (là THIÊN ĐỒNG) 1 lúc (là THIÊN CƠ) đánh tùm lum nhiều mục tiêu. Đó là mới chiến thuật. Chiến lược là đánh địch về quân sự, đánh kinh tế, lại tuyên truyền. Tất cả mọi cái đều đồng bộ. Ví dụ rõ nét. Để đánh IS, nào là tuyên truyền cái ác, nào là đánh các kho dầu, đánh bằng quân sự, hạn chế đi lại các nước liên quan, đồng thời... đưa điệp viên vào để làm nhiệm vụ chỉ điểm mục tiêu. Thế là đồng bộ.

Các thành ngữ có chữ đồng cũng nhiều.
Đồng cam cộng khổ.
Cùng chia ngọt, chia đắng. Tương ứng với câu “Đồng ưu cộng lạc” vui buồn có nhau.

Đồng bệnh tương liên.
Cùng bệnh dễ cảm thông lẫn nhau.

Đồng điệu tri âm.
Hiểu nhau nhờ cùng nhịp điệu.

Đồng quan đồng quách.
Lời thề của nam nữ khi yêu nhau nhưng các nấm mộ tập thể thể chẳng ai cần thề. Quân IS bắt tù binh ĐÀO HOA. Tù binh ngơ ngác hỏi/ ĐÀO HOA là gì?/ Đào hố đừng hỏi. Sau khi tù binh nằm dưới hố, quân IS lia vài loạt lấp lại là TANG MÔN.

Đồng nghiệp tương cừu.
Cùng nghề dễ ghét nhau vì cạnh tranh. Hai cô ca sĩ có khen nhau bao giờ.

Đồng tịch đồng sàng.
Cùng chung chiếu chung giường. Thành ngữ này dùng cho vợ chồng. Từ đó 2 bên thông đồng với nhau mà ta đã biết “đồng” cũng là cái bụng. Có nghĩa là 2 cái bụng thông nhau, về sau sinh ra THIÊN ĐỒNG con. Nằm lộn chiếu lộn giường người ta gọi là thông gian.
Những THIÊN ĐỒNG trời ơi sống bầy đàn cũng là cách này.

Đồng sàng dị mộng.
Cùng chung giường nhưng mơ tưởng khác nhau. Sao THIÊN ĐỒNG đã bị phá cách.

Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.
Cùng một âm thanh thì nó ứng. So dây guitar người ta dùng kỹ thuật này. Bấm nốt rề trên dây la, đánh nó, dây rề bị rung cộng hưởng chứng tỏ 2 dây la, rề đã tương ứng. Cứ thế người ta so tiếp. Ý nói cùng chí hướng tất dễ thông cảm với nhau.

Các thành ngữ về chữ Đồng rất nhiều.
THIÊN ĐỒNG tất liên quan đến chữ đồng, và còn liên quan đến các chữ khác như ruộng đồng nương vườn, chữ thông, chữ bụng, chữ lòng, chữ phúc, chữ no, chẳn (đủ đôi, đủ cặp), thâm sâu trái với nông cạn, nông nổi...

Ví dụ ca từ viết. “Nào ai lấy thước đo tất lòng...” Có nghĩa nhạc sĩ đang ngao ngán 1 THIÊN ĐỒNG, ngôi sao tốt bụng nhưng mình gặp lại không tốt tí nào. Vậy thì, tốt xấu đâu phải tại THIÊN ĐỒNG tại các sao vây quanh nó.

Đăng nhận xét