Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2009

Mạc Đăng Dung phần cuối

Bài 3. MẠC PHÚC HẢI


Cuối đời Mạc Đăng Doanh, quan hệ với nhà
Minh trở nên căng thẳng. Tình hình ở phía Nam cũng nguy cấp: quân đội Lê trung
hưng sau 7 năm chiêu binh luyện mă đă đủ sức về đánh chiếm Nghệ An và hai năm
sau năm Quí Măo (1543) đă kiểm soát được cả Tây Đô (Thanh Hoá). Mạc Đăng Dung
phải trở lại Đông Kinh đưa cháu nội là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi năm Tân Sửu
(1541).




Lúc này, ở Trung Quốc, Minh Thế Tông đem việc Nam chinh ra luận bàn, rất nhiều
quan lại nhà Minh dâng sớ can vua mềm dẻo mà giải quyết việc biên giới phía
Nam, rút bài học thất bại của các đời vua trước. Họ bộ thị lang Đường Trụ dâng
sớ tŕnh bày 7 điều không nên đánh An Nam, cho rằng các thời vua trước chưa bao
giờ thắng lợi ở An Nam kể từ Mă Viện đến Minh Thái Tông... Thị lang Phan Trân lại
nói: "Mạc Đăng Dung cướp ngôi Lê cũng như Lê cướp ngôi Trần vậy; nếu Đăng
Dung chịu dâng biểu nộp cống thì coi như được".




Vua Thê Tông nhà Minh và lũ triều thần bàn đi bàn lại hàng tháng trời, rút cuộc
vẫn muốn nối chí Minh Thành Tổ là chiếm nước Nam làm quận huyện như trước. Vua
Minh cử Cừu Loan làm đô đốc, Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ phụ trách việc đánh
dẹp, Hộ bộ thị lang và Cao Công Thiều đi đốc thúc quân lương ở các tỉnh Vân
Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Quân xâm lược đang ngấp nghé ở biên thuỳ phía Bắc.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh rất bất lợi cho nhà Mạc là có thật. Nhưng Mạc Đăng
Dung cũng biết được nội bộ triều Minh không nhất trí trong việc đánh An Nam.
Qua viên tướng giữ châu Liêm là Trương Nhạc, vua Mạc biết là có thể thoát ra
khỏi cuộc chiến tranh bằng giải pháp hoà b́nh. Các tham chính nhà Minh đ̣i Mạc
Đăng Dung phải đích thân đến vửa quân, nộp đất dựng mốc, bỏ đế hiệu đă tiếm
xưng và theo chính sóc (các ngày lễ mùng 1 và rằm hàng tháng, ngày đăng quang
của nhà vua) và niên lịch của nhà Minh. Đó cũng là cái cớ để cho Cừu Loan và
Mao Bá Ôn vốn ngại chinh chiến xuống phương Nam băi binh. Rút bài học từ cha
con họ Hồ, Mạc Đăng Dung lúc này tuy đă nhường ngôi cho con tiếp sau là cháu,
trở về sống cảnh điền viên ở Cổ Trai, vẫn phải chấp nhận yêu cầu trên: tự trói
ḿnh trước phủ quân Minh ở trấn Nam Quan, trả lại 4 động, xin nội phụ... Ông
già Mạc Đăng Dung mặc dù ḷng không muốn vẫn phải gắng sức cuối cùng chịu nổi
nhục (khổ nhục kế) để con cháu ông tránh khỏi một cuộc chiến tranh khốc liệt mà
chắc chắn là tốn rất nhiều năm xương máu của cả hai bên. Sau sự kiện quá sức
đó, trở về Cổ Trai sống những ngày còn lại, chẳng bao lâu thì Mạc Đăng Dung
mất, đó là một ngày thu tháng 8 năm Tân Sửu (1541). Như vậy Mạc Đăng Dung làm
vua được 3 năm, làm Thái thượng hoàng 12 năm, thọ 59 tuổi. Ông có để lại di
chúc: không làm đàn chay cúng phật, khuyên Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư
để trấn an nhân tâm và xă tắc là trọng.




Tháng 10 năm ấy Mao Bá Ôn về đến Yên Kinh tâu với vua Minh việc Mạc Đăng Dung
đă tự trói ḿnh dâng lễ hàng ở cửa ải, xin tuân theo chính sóc... Nếu xem Mạc
Đăng Dung là kẻ có tội đầu hàng mà chưa có thể khinh suất cho tước và đất, thì
hăy mong tha tội cho cháu là Phúc Hải... Còn như Lê Ninh tuy tự xưng là con
cháu nhà Lê nhưng tung tích chưa rơ ràng... Thế là tháng 3 năm Nhâm Dần (1542)
Mạc Đăng Dung làm An Nam đô thống sứ ty và một quả ấn bạc và cũng tháng 12 năm
đó (1542) Mạc Phúc Hải lên trấn Nam Quan hội khám và nhận lịch đại thống của
nhà Minh, một tờ đạo sắc phong nhà Minh lại phong cho Mạc Phúc Hải được tập
tước của ông làm An Nam đô thống sứ ty.




Thời Mạc Phúc Hải, theo lời bàn của thiếu sư Mạc Ninh Bang đă tiến hành việc
chia cấp lộc điền, đặc biệt ưu tiên binh sĩ - một lực lượng quân sự to lớn được
nuôi dưỡng để chống lại Nam Triều.





Trong khi đó, tại Nam Triều, quân binh do Lê Trang Tông tự làm tướng đă kéo ra
Yên Mô (Ninh B́nh), Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim bị đánh thuốc độc chết
đột ngột, quyền hành lọt vào tay con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm. Lực lượng
phía Nam triều ngày càng được củng cố. Mạc Phúc Hải lại thường say mê hát
xướng, thích chơi chọi gà, ít quan tâm đến triều chính, mọi mặt giảm sút. Song
Phúc Hải làm vua không lâu. Ngày 8 tháng 5 năm Bính Ngọ (1546), Phúc Hải chết,
ở ngôi 6 năm, về sau truy tôn là Hiến Tông Hiển hoàng đế.


 


Bài 4. MẠC TUYÊN TÔN


Phúc Nguyên là con trưởng của Phúc Hải,
nối ngôi vào tháng 5 năm Bính Ngọ (1546). V
ì vua mới nối ngôi c̣n nhỏ tuổi nên mội công việc triều
chính do người chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển quyết đoán. Nhưng triều Mạc đến
đây đă bắt đầu lục đục. Nguyên do khi Phúc Hải mất, tướng nhà Mạc là Phạm Tử
Nghi mưu lập Hoàng vương Chính Trung (là con thứ của Đăng Dung) lên làm vua,
việc không thành, Mạc Phúc Nguyên sai Kính Điển và Nguyễn Kính đem quân đi bắt
Chính Trung dời về xă Hoa Dương (xă Trác Dương, Hương Nhân, Thái B́nh), nhưng
bị Tử Nghi đánh thua. Sau vì thế cô Tử Nghi đem Chính Trung ra chiếm người cướp
của ở Quảng Đông, Quảng Tây, người Minh không thể kiềm chế được. Sau họ phải
thu xếp cho Chính Trung an cư ở xứ Thanh Viễn, hàng năm cấp phát lương thực.




VÌ lục đục nội bộ, Chính Trung ở đất Minh đem việc Nguyễn Kính chuyên quyền tâu
lên Viện đốc phủ nhà Minh. Nhà Minh ngở Phúc Nguyên không phải là ḍng dơi nhà
Mạc, đưa thư đ̣i khám xét. Vừa mới dẹp xong dư đảng của Tử Nghi ở Hải Dương,
Mạc Kính Điển và Lê Bá Ly phải hộ tống Mạc Phúc Nguyên lên cửa Trấn Nam, dùng
mọi lời lẽ thuyết phục, được quan chức Lưỡng Quảng bằng ḷng phong cho tập
tước, đó là năm Kỷ Dậu (1549)...




Sau sự kiện ấy có người dâng sớ khuyên Mạc Phúc Nguyên phải biết tự ḿnh trông
coi chính sự vì đă lớn tuổi rồi. Dù vậy, Phúc Nguyên không đủ sức điều hành
việc nước, phải nhờ cậy vào Lê Bá Ly. Năm Kỷ Dậu (1549), vua Mạc phong cho Lê
Bá Ly làm Thái tể, Phụng Quốc công, từ đó Bá Ly trở thành người nắm giữ binh
quyền và triều chính, uy thế ngày một lớn, con em trong nhà Bá Ly đều đảm nhiệm
nhiều trọng trách lớn của triều đ́nh. Và mẫu thuẫn giữa các quần thần lại nổi
lên; Phạm Quỳnh, Phạm Dao, cả hai cha con trước kia là tôi tớ Lê Bá Ly nay có
chút vinh hiển lại ghen tức gièm pha. Mạc Phúc Nguyên đă tin theo Phạm Quỳnh,
và thế là cha con Lê Bá Ly đem bộ tướng và quân gia hơn 1 vạn 4 ngh́n người
trốn vào Thanh Hoá xin hàng vua Lê. Từ đó, phần lớn mưu thần mănh tướng bỏ nhà
Mạc chạy theo Lê. Thánh thế quân Trung Hưng ngày càng trở nên mạnh mẽ. Mạc Phúc
Nguyên thấy vậy lấy làm lo sợ, trao hết binh quyền cho chú là Mạc Kính Điển, tự
ḿnh rút về bảo vệ xứ miền Đông.


Tháng 7 năm Đinh Tỵ, Mạc Phúc Nguyên sai Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hoá;
Phạm Quỳnh, Phạm Dao đánh Nghệ An. Quân Mạc thua to. Mạc Kính Điển phải liều
nhảy xuống sông, bơi vào ẩn nấp tại hang núi chịu đói chịu khát suốt 3 ngày,
may gặp được một người đánh cá cứu sống. Thừa thắng quân Lê-Trịnh huy động hơn
5 vạn quân thuỷ bộ tổ chức cuộc tấn công ra Sơn Nam, nhưng bị thua, quân Trịnh
tan vỡ, bỏ thuyền chạy bộ. Quân Mạc lại sai tướng chẹn lối về, quân Lê-Trịnh
chết đến quá nửa, hàng chục viên tướng bị giết, thuyền bè khí giới bỏ lại vô
kể.




Đến năm Kỷ Mùi (1559) quân Lê-Trịnh lại mở cuộc tấn công ra Bắc, đánh phá các
tỉnh hậu phương của Mạc như Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Kinh Bắc, Hải
Dương... Mạc Phúc Nguyên phải rút vào pḥng thủ, bên ngoài thành Thăng Long
đóng đồn trại dọc phía Tây sông Nhị, dinh trại liên tiếp, thuyền bè nối nhau;
ngày thì gióng trống báo tin, đêm thì đốt lửa làm hiệu. Bị quân Trịnh đánh trực
tiếp vào các huyện Đông Triều, Giáp Sơn, Chí Linh, quân Mạc phải ra huyện Thanh
Trì.




Tháng 12 năm Tân Dậu (1561), giữa lúc cuộc chiến Trịnh-Mạc đang gay go quyết
liệt nhất thì Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu mùa. Ông vua Mạc trẻ này ở ngôi
được 18 năm.


 


 Bài 5 Hết. MẠC MẬU HỢP


Mạc Mậu Hợp là con cả của Phúc Nguyên, sinh năm Nhâm Tuất
(1562). Khi lên ngôi mới 2 tuổi phải lấy Ứng vương Mạc Đôn Nhượng (con trai Mạc
Đăng Doanh) làm phụ chính. Năm ấy (1562), họ Mạc ngờ Thái bảo Văn Quốc công
Phạm Dao có lòng khác bèn giết đi.




Năm Giáp Tư (1564), con trưởng của Mạc Kính Điển là Đoan Hùng vương Mạc Kính
Chỉ ngầm tư thông với mẹ kế, việc bại lộ, phải giáng xuống làm thứ nhân. Mạc
Kính Điển cho lấy con thứ là Mạc Kính Phu làm Đường An vương, giao giữ việc
binh. Đến khi Kính Điển chết, vua Mạc lại cho Kính Chỉ phục lên tước Công,
nhưng không cho giữ binh quyền.





Năm Bính Dần (1566) Mạc Mậu Hợp dời về ở quán Bồ Đề, sai Lại bộ thượng thư kiêm
Đông các đại học sĩ Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên địa đầu
Lạng Sơn đón sứ thần Lê Quang Bí về nước.




Nguyên là vào năm Mậu Thân (1548) Quang Bí được cử đi sứ lo việc cống tiến hàng
năm. Ông đến Nam Ninh, bị người nhà Minh ngờ là quan giả mạo, bắt phải chờ để
tra xét thực hư. Nhưng rồi Quang Bí cứ phải lưu tại sứ quán chớ minh xét. Bấy
giờ Phúc Nguyên mấy năm liền bỏ việc cống nên không dám tâu xin. Đến năm Quí
Hợi (1563) viên quan ở Lưỡng Quảng mới sai người đưa Quang Bí 25 lạng bạc để
thưởng công lao và tiếp tục cuộc hành tŕnh của sứ bộ. Khi Quang Bí tới Bắc
Kinh lại bị lưu giữ chờ đợi ở sứ quán. Mặc dù chờ đợi rất lâu nhưng Quang Bí
vẫn kính cẩn giữ mệnh chúa, không tỏ ra bực tức. Thấy vậy viên Đại học sĩ nhà
Minh là Lư Xuân Phương vừa nể phục vừa thương t́nh mới tâu vua Minh cho dâng
nộp lễ phẩm và cho Quang Bí về nước. Cuộc đi sứ của Quang Bí chiếm kỉ lục về
thời gian đi sứ trong lịch sử ngoại giao nước Nam , cả đi về và chờ đợi hết 18
năm. Lúc ra đi tóc mây xanh mướt, khi trở về râu tuyết bạc phơ! Người nhà Minh
ví ông như Tô Vũ xưa đi sứ sang Hung nô!

Khi về đến Đông Kinh, Bí được phong Tô Quận công.




Tháng 10 năm Quí Dậu (1573), Mạc Mậu Hợp mới 12 tuổi, từ bến Bồ Đề qua sông vào
Đông Kinh, đắp thành ở bên ngoài cửa Nam, dựng một ngôi điện bằng tranh tre để
ở. Thế rồi năm Đinh Sửu (1577), Mạc Mậu Hợp 16 tuổi, lấy con gái của Cẩm y thư
vệ sự Phú Sơn hầu Vũ Văn Khuê là nàng Vũ Thị Hoành làm vợ, lập làm Chính phi.

Vào thời điểm này, ở phía Nam Triều, Trịnh Kiểm đă chết, binh quyền vào tay
Trịnh Tùng. Vua Lê và Trịnh Tùng sống với nhau khá hoà thuận, chính sự được
chỉnh đốn, quân sĩ tinh tráng khoẻ mạnh, khí thế đang lên còn phía Bắc triều,
sau khi vào Đông Kinh, Mạc Mậu Hợp ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để ư gì
đến việc nước. Rất nhiều sớ của các quan khuyên răn Mạc Mậu Hợp bớt dâm dục
chơi bời, nhưng vô hiệu.




Ngày 21 tháng 2 năm Mậu Dần (1578), Mạc Mậu Hợp bị sét đánh vào cung, liệt nửa
người, chữa măi mới khỏi. Lúc này rất nhiều người trước kia hi vọng những gì
tốt đẹp ở vương triều mới, đă ra thi thố tài năng giúp việc, đều chán nản, muốn
rút về ở ẩn.

Thấy Giáp Trừng là người hết lòng, Mạc Mậu Hợp phong chức Thượng thư Lại bộ
Luân Quận công. Ông kiên quyết từ chối... nhưng Mạc Mậu Hợp không chấp nhận.





Tháng 10 năm Canh Thìn (1580), Mạc Kính Điển, người có uy quyền danh vọng và là
trụ cột của triều đ́nh Mạc qua đời, lòng người hoàng mang. Chính quyền của Mạc
Mậu Hợp bắt đầu bộc lộ những căn bệnh hiểm nghèo, khó bề tránh khỏi bại vong:
quan lại hèn nhát, cơ hội và vô trách nhiệm chỉ ham đục khoét làm giàu. Triều
thần thì không hiến được kế sách gì để chống lại địch. Ứng vương Mạc Đôn Nhượng
giữ quyền phục chính quyết định mọi việc nhưng lại thường về sống ở Dương kinh,
vì thế việc triều bê bối không ai quyết đoán. Các quan có việc đến yết kiến bẩm
báo, vua không giải quyết nổi. Còn quan phụ chính thì khó gặp. Từ đó triều thần
trễ nải, không tới công đường, tránh né không chịu bàn việc.




Hàng đống sơ tấu tâm huyết gửi lên khuyên Mạc Mậu Hợp thay đổi chính sự, song
vô hiệu.




Năm Tân Tỵ (1581), Mạc Mậu Hợp lại bị chứng bệnh "thong manh" mắt mờ
không rơ, sau chữa măi mới khỏi. Khỏi bệnh, Mậu Hợp lại lao ngay vào ăn chơi.
Năm Nhâm Ngọ (1582), Mậu Hợp cho dựng một ngôi điện, gọi là điện Giảng học,
danh nghĩa là vậy thực ra đấy là nơi yến tiệc, chơi bời. Ngôi điện vừa làm xong
thì một buổi tối bị hỏa hoạn, cháy trụi. Năm Đinh Dậu (1585), Mạc Mậu Hợp vào ở
hẳn trong kinh thành Thăng Long, sai tu sửa kinh thành, xây dựng lại với quy mô
lớn, công việc xây dựng rất khẩn trương (xong trong 1 năm). Vào thành, Mậu Hợp
chỉnh đốn xe ngựa, mở triều ban văn vơ... thăng Giáp Trừng, Mạc Ngọc Liễn và
Nguyễn Quyện lên các chức vị cao sang nhất, nhưng họ việc lư do từ chối hoặc
xin nghỉ việc. Ngay cả ông chú của Mạc Mậu Hợp là Mạc Đôn Nhượng cũng xin giải
nhiệm.




Năm Đinh Hợi (1587), Mạc Mậu Hợp lại một lần nữa tu bổ gia cố thành Thăng Long
và chỉnh trang các đường phố. Hợp sai các xứ Tây (Sơn Tây) và xứ Nam (Sơn Nam ) đắp lũy đất, trồng tre gai
chạy suốt từ sông Hát xuống đến sông Hoa Dinh dài chừng vài trăm dặm. Đây là
công tŕnh pḥng ngự của Mạc Mậu Hợp. Sau đó theo lời khuyên của Giáp Trừng,
vua Mạc còn cho đắp thêm 3 luỹ đất ở bên ngoài thành Đại La từ Nhật Chiêu qua
Tây Hồ và Cầu Dền đến tận bến Thanh Trì. Các lũy này cao hơn thành cũ Thăng
Long tới vài trượng, rộng 25 trượng, 3 lần hào, cắm chông gai, bao vây ngoài
thành.




Nhiều việc trái luân thường đă xảy ra trong triều thần họ Mạc: Năm Canh Dần
(1590), vợ Mạc Kỉnh Chỉ không chịu kém chồng, tư thông và ẩn trốn tại nhà Hoàng
Quận công, là tướng dưới quyền chồng mình. Việc vỡ lở, cả hai đều bị giết.
Chính sự triều đ́nh Mạc Mậu Hợp ngày càng đổ nát, binh lực suy yếu, lòng người
ly tán.




Giữa lúc đó, quân đội Lê-Trịnh tấn công liên tiếp vào hậu cứ quân Mạc. Có lúc
đă huy động lực lượng chống trả đến 10 vạn quân, nhưng nhà Mạc vẫn thua trận.
Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành Thăng Long sang bến Bồ Đề, chia quân giữ phía Bắc
sông Cái để tự vệ.





Khốn đốn là vậy mà Mạc Mậu Hợp vẫn lao vào ăn chơi trác táng. Thấy Nguyễn Thị
Niên, con gái của Nguyễn Quyện, vợ trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê,
em gái Hoàng hậu xinh đẹp, Mậu Hợp đem lòng yêu mến và muốn "mía ngọt ăn
cả cụm", bèn ngầm tính kế giết Bùi Văn Khuê-một tướng tài thống lĩnh toàn
bộ lực lượng thuỷ quân của Mạc-để cướp vợ Khuê. Biết âm mưu ấy, vợ Văn Khuê mật
báo cho chồng. Văn Khuê đem quân bản bộ về giữ hạt Gia Viễn, chống lại lệnh vua
Mạc. Mạc Mậu Hợp mấy lần vời không được phải cho quân tướng đến hỏi tội Văn
Khuê. Văn Khuê, một mặt đem quân chống giữ, mặt khác cho con là Bùi Văn Nguyên
vào hàng quân Trịnh và xin quân cứu viện. Trịnh Tùng rất mừng, thu nhận ngay và
cho quân ra cứu Văn Khuê. Thế là thuỷ quân, chỗ mạnh nhất của binh lực nhà Mạc
do Bùi Văn Khuê nắm giữ đă lọt vào tay quân Trịnh. Trịnh Tùng được Văn Khuê
giúp rập rơ ràng chiến thắng đă ở trong tay!




Cái mà Trịnh Tùng thiếu là thủy quân, nay đă có Bùi Văn Khuê, Tùng liền mở một
loạt nhiều đợt tấn công bằng đường thủy xuống vùng Kinh Dương của nhà Mạc. Ngày
25 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), thủy quân Trịnh gồm 300 chiếc thuyền đánh vào
huyện Kim Thành. Mạc Mậu Hợp bỏ chạy, quân Trịnh thu được rất nhiều vàng bạc
của cải, đồ dùng và con gái, bắt Thái hậu nhà Mạc giải về Thăng Long. Tới sông
Bồ Đề, Thái hậu nhà Mạc nhảy xuống sông tự vẫn. Mạc Mậu Hợp sợ đến mức phải
trao hết quyền bính cho con trai là Toàn lên làm vua còn mình thì chạy trốn.




Quân Trịnh thừa thắng phá tan quân của Mạc Kính Chỉ ở Tân Mỹ thuộc Thanh Hà,
thu chiến thuyền và khí giới vô kể. Nhà cửa và các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh
Môn, lửa cháy rực trời, dư đảng của nhà Mạc kéo nhau đến doanh trại quân Trịnh
xin hàng.




Mạc Mậu Hợp chạy trốn tại một ngôi chùa ở huyện Phương Nhăn (Bắc Ninh). Quân
Trịnh sục tới, dân địa phương cho biết Mậu Hợp đóng giả sư ông, đến ẩn ở chùa
Mô Khuê đă 11 ngày. Quân sĩ đến chùa, thấy Mậu Hợp nghiễm nhiên ngồi xếp bằng,
đang tụng kinh. Lính Trịnh gạn hỏi, Mậu Hợp giả bộ ấm ớ đáp: "Bần tăng tu
hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối đĩa rau hàng ngày trai dưỡng;
thắp hương thờ phật, công đức chuyên làm". Quân sĩ thấy nhà sư ăn nói hoạt
bạt, khéo léo, biết chắc là Mậu Hợp liền bắt giữ ngay. Mậu Hợp biết không thể
thoát được, bèn thú thực.




"Mấy ngày nay, tôi ẩn nấp trong rừng rậm, quá đói khát, dám xin một bình
rượu uống cho đă". Quân sĩ cấp cho bình rượu. Uống xong, Mạc Mậu Hợp ngậm
ngùi than rằng:

"Nghiệp chướng qua sâu! Nay cầu làm một người dân thường, cũng không
thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đă làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu
ngày nay phải mắc tội nặng như vậy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước hoàng đế,
để bày tỏ thực t́nh. Đó là tôi rất mong muốn".





Quân Trịnh dùng voi chở Mạc Mậu Hợp và hai kỹ nữ, giải về kinh sư. Sau đó, Mậu
Hợp phải chịu treo sống ba ngày, xong chém đầu ở băi cát Bồ Đề, thủ cấp hiến
hoàng đế nhà Lê ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hoá, bị đóng đinh đem bêu ngoài
chợ.

Mạc Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi, ở ngôi 29 năm, khi chết 31 tuổi.




Con trai Mạc Mậu Hợp là Toàn, được Mạc Mậu Hợp nhường ngôi, tự xưng là Vũ An,
nhưng không được nhân tâm ủng hộ, thế cô, ngầm trốn, cũng bị quân Trịnh bắt
được đem chém đầu tại bến Thảo Tân.




Như vậy họ Mạc từ Đăng Dung đến Mậu Hợp, truyền ngôi được 5 đời thì mất, tổng
cộng được 66 năm.




Sau đó con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng. Theo sấm Trạng Trình, họ Mạc còn kéo
dài được đến 96 năm nữa mới bị mất hẳn. Về sau, con cháu nhà Mạc không xưng đế
mà chỉ trấn thủ ở vùng núi phía Bắc thôi. Sử nhà Lê chép vào tháng 7 năm Giáp
Ngọ (1594), Đà quốc công nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn trước khi qua đời để lại thư
khuyên Mạc Kính Cung rằng: "Nay họ Mạc khí vận đă hết, họ Lê lại phục
hưng, đó là số trời. Bọn ta nên tránh ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất
đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy
sức chọi sức, hai con hổ đánh nhau tất có một con bị thương, không được việc
gì. Nếu thấy quân họ đến thì nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt phải giữ cẩn là
hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải
chịu lầm than, đó cũng là tội không gì nặng bằng".




Đến năm Mậu Thìn (1688), những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc
mới bị triều đình Lê-Trịnh dẹp yên.



Nguồn: Ebook made by ChicknSoup@UDS   

Contact
me at
mistake37@yahoo.com



Report abuse for this article


















  • Phan Thanh Phan Thanh
     Mạc Mậu Hợp ngậm ngùi than rằng: "Nghiệp chướng qua sâu! Nay cầu làm một người dân thường, cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đă làm s..
     Mạc Mậu Hợp ngậm ngùi than rằng: "Nghiệp chướng qua sâu! Nay cầu làm một người dân thường, cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đă làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vậy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước hoàng đế, để bày tỏ thực t́nh. Đó là tôi rất mong muốn"
    Đây ko phải là nghiệp chướng của tổ tiên họ Mạc "làm sự giết vua cướp ngôi", mà là do vua nhà Mạc đến những đời cuối thì ham chơi bời trác táng làm lòng người phân tán mà mà đi tướng tài quan giỏi, làm lòng dân không yên. Nhà Mạc mất đi là do tội lỗi của Mạc Mậu Hợp phải gánh chịu, chứ ko thể đổ thừa cho ai được. Trời phạt mấy lần như sét đánh vào dù đang ở trong cung, gây liệt nửa người, hay vừa xây xong ngôi điện Giảng hợp thì bị cháy, lòng hiền thần ko tụ hội, thì làm sao mà ko gây nghiệp quả? Một kẻ ăn chơi làm cả một phần dân tộc phải gánh chịu nội chiến chết chóc máu xương. Thật là quá bi ai!!!
    • dovan dovan
      • dovan
      • Apr 16, 2010 4:40 PM
      Cháu thú thật là vào blog của Bác để được học tử vi. Nhưng những bài viết của Bác về lịch sử và các nhân vật lịch sử lại làm cháu rất quan tâm, ..
      Cháu thú thật là vào blog của Bác để được học tử vi. Nhưng những bài viết của Bác về lịch sử và các nhân vật lịch sử lại làm cháu rất quan tâm, thích thú và nhớ nhanh. Cháu có sở thích tìm hiểu lịch sử nước mình, dòng họ mình, quê hương mình. Tuy nhiên, giai đoạn thời nhà Nguyễn và các nhân vật lịch sử thời này do nhiều nguyên nhân mà tư liệu không được phổ biến nhiều. Đó là một thiệt thòi cho lớp hậu sinh chúng cháu.
      • Thành Thành
        Hay quá, nhà Mạc di ngôn lại cho hậu duệ rất hay, phải chi nhà Lê, nhà nguyễn cũng có quan điểm như vậy thì phúc cho dân Việt! " chớ nên mời người ..
        Hay quá, nhà Mạc di ngôn lại cho hậu duệ rất hay, phải chi nhà Lê, nhà nguyễn cũng có quan điểm như vậy thì phúc cho dân Việt! " chớ nên mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải
        chịu lầm than, đó cũng là tội không gì nặng bằng".
        • thanh thanh
          • thanh
          • Jul 1, 2009 12:58 AM
          bac oi chau rat thich nhung bai nhu the nay, bac co gang viet nhe bac chang han nhu ve vua gia long nguyen anh, hay nguyen hue quang trung .... cam on bac nhieu , chuc bac moi su tot lanh, va manh khoe
          • TênTên
            TênTên
            • TênTên
            • Jan 30, 2009 11:20 AM
            Cứ viết đi bạn cho thêm phong phú. Sử cũng hay mà tử vi cũng hay. Tử Vi cũng có quyết định đến lịch sử đó. Nếu bạn lí giải được vấn đề này thì t..
            Cứ viết đi bạn cho thêm phong phú. Sử cũng hay mà tử vi cũng hay. Tử Vi cũng có quyết định đến lịch sử đó. Nếu bạn lí giải được vấn đề này thì tốt. Nếu bạn có đủ khả năng có thể viết về tử vi của các vị vua hay tổng thống. Vì số mạng họ quyết định đến sự nghiệp. Tôi cũng muốn biết. Tôi tình cờ đọc được một bài nói về phong thủy thủ đô ảnh hưởng đến vận mạng đất nước. bạn vào Blog tôi mà đọc
            • Bửu Đình Bửu Đình
              Ưa viết về Vua Hàm Nghi. Nhì là Vua Lê Uy Mục. Nhưng bận viết TỬ VI là chính, chưa kể chuyện riêng tư quấy rối. Nếu các bạn thích mình lấy một số tư..
              Ưa viết về Vua Hàm Nghi. Nhì là Vua Lê Uy Mục. Nhưng bận viết TỬ VI là chính, chưa kể chuyện riêng tư quấy rối. Nếu các bạn thích mình lấy một số tư liệu của thầy mình, hoặc cháu của mình có viết các đề tài lịch sử, nhưng muốn vậy mình phải xin phép.
              • TênTên
                TênTên
                • TênTên
                • Jan 29, 2009 3:55 PM
                Tiếp tục viết thêm nhiều bài nhé bạn.
              Đăng nhận xét