Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

Giờ Tháng Sinh Và Số Mệnh.


Bài viết gồm có các phần.

Giờ sinh và số mệnh.

Tháng sinh và số mệnh.

Năm sinh và số mệnh.

Tháng sinh và đặc điểm.

Bài viết này để nghiên cứu trong trường hợp sinh mổ. Sinh mổ là trường hợp vạn bất đắc dĩ, không nên lạm dụng nó trái với tự nhiên. Kinh nghiệm cho thấy, toàn sinh ra vào giờ xấu. Không thể can thiệp được.

Đa phần sinh mổ người ta thường chọn giờ. Các thầy Tử Vi dỏm thường ba hoa cái miệng ngày lành tháng tốt. Thậm chí, năm Thìn là rồng. Rồng là biểu tượng tốt đẹp hằng triệu con rồng ra đời. Trong đó có vài con rồng thật, còn lại toàn giun đất.

Sau đây là số mệnh tuỳ thuộc vào giờ tháng, sinh và điều chưa bàn đến là năm sinh.

Sinh tháng âm, tháng lẻ luôn luôn có VĂN XƯƠNG hội họp tại MỆNH hoặc nằm tại các cường cung, không ngại gặp KHÔNG KIẾP. Chỉ trừ các trường hợp gặp Linh Xương La Vũ hay Linh Xương Đà Vũ dễ nghe lời xúi giục mang họa.

Sinh các tháng chẵn, dương. Sát tinh THIÊN KHÔNG uy hiếp các cường cung. Và ĐỊA KIẾP còn lại cũng thế.

Tháng sinh và số Mệnh.

Sinh các tháng sau đây bất cứ giờ nào cũng thế.

Sinh tháng giêng:

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Tài Bạch cung.

Liệu có hình thành cách LINH XƯƠNG LA VŨ không?

THIÊN KHÔNG tại Tử Tức cung.

Dễ gặp chuyện không may về con cái, như khổ vì con. Dễ gặp cách THIÊN ĐỒNG ngộ KHÔNG KIẾP bất cát. Hoặc không con nối dõi bộ TỬ TƯƠNG ngộ KHÔNG. Kể cả PHỦ TƯỚNG đơn thủ....

Tất cả còn tuỳ thuộc vào các chính tinh toạ thủ. Biết được chính tinh lại cần biết năm sinh, tháng sinh, giờ sinh và ngày sinh.

Sinh Tháng 2:

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Tật Ách cung.

THIÊN KHÔNG tại Tài Bạch cung. Đây là 1 cách cục xấu cho Mệnh dễ gặp ác bệnh, tai ách quan trọng.

Từ cách này, dễ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương gia thêm THẤT SÁT. Thuộc cách “Quế Sứ Hoa Thương tối hiềm giao hội”. VĂN KHÚC còn gọi là Quế. Còn được gọi mỹ danh VĂN QUẾ, VĂN HOA.là tên riêng của VĂN XƯƠNG.

Nếu không gặp THẤT SÁT, bộ sao này lại gặp KỴ HÌNH cũng dễ mang tai tiếng xấu cho người thân.

Từ vị trí cung Phụ hoặc Huynh. Nếu thấy có XƯƠNG KHÚC có THẤT SÁT bất kỳ là cách QUẾ SỨ HOA THƯƠNG.

Thực hành. Mẫu A: Nếu thấy THIÊN KHÔNG tại Tài bạch xem ĐỊA KIẾP nằm ở đâu. Vì KHÔNG KIẾP là 1 bộ sao sao nó phát huy tác dụng với nhau. Chủ tai hoạ không ngờ có liên quan đến tài bach là chính và công danh, công việc. Ngoài ra, còn có nguy cơ, có thể gặp cung an Thân có KHÔNG hoặc có KIẾP.

Sinh Tháng 3.

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Thiên Di cung. Đây là yếu tố tốt đem văn chương giao lưu.

THIÊN KHÔNG tại Tật Ách cung. Tìm xem ĐỊA KIẾP đóng ở đâu. Sẽ rất dễ chịu nếu cung Tật Ách có TRIỆT. Sẽ rất xấu nếu gặp Tam Không, HOẢ LINH, KỴ HÌNH. Có nghĩa là sao TRIỆT mất tác dụng.

Có thể gặp bộ KHÔNG KIẾP THƯƠNG SỨ. Tại các vị trí cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ. Nhiều chuyện tai hoạ trong gia đình mình phải gánh vác. ĐỊA KIẾP đóng đâu kiếp nạn nằm tại đó.

Sinh Tháng 4

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Nô Bộc cung.  Đây là 1 cách xấu nhưng không phải cung này xấu. Vô tình đem lại cái xấu là bố cục lá số xấu nằm tại cung Mệnh và Di. Vì lý do sau đây.

THIÊN KHÔNG luôn luôn đóng tại Thiên Di cung.

Dễ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương gia thêm THẤT SÁT. Đây là 1 cách cục rất xấu, được phê đa khổ tai ương, rất dễ bị giết hại, nếu không bị hoạ đàn áp. Dù không gặp THẤT SÁT nhưng bộ XƯƠNG KHÚC đi với THƯƠNG SỨ kỵ gặp thêm các bộ thị phi khác như KỴ HÌNH dễ gặp tai tiếng xấu.

Thấy THIÊN KHÔNG tại Di tìm xem ĐỊA KIẾP ở đâu, tai hoa không ngờ có liên quan đến giao lưu ngoài xã hội. Tất nhiên ĐỊA KIẾP đang chế ngự cường cung. Là các cung Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài, Phối.

Có câu: “Thiên Di tối kỵ KHÔNG KIẾP lâm vào”. Vì ra ngoài dễ gặp tai họa không ngờ, dễ bị lừa đảo... Tối kỵ gặp THIÊN LƯƠNG vì hình thành cụm  từ không may, bất hạnh.

Đặc biệt.

Sinh vào 2 giờ Tuất Thìn rất xấu. Xấu đây, là xấu về mặt tai hoạ, tai nạn dễ tổn thọ. Không liên quan gì đến công danh tài lộc., cũng không liên quan gì đến tính cách con người.

Sinh 2 giờ Mão Dậu thuộc cách Bán Thiên Chiết Sí (gảy cánh lưng trời)

Sinh Tháng 5

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Quan Lộc cung.

THIÊN KHÔNG tại Nô Bộc cung. Dễ gặp không may do Nô Bộc mang lại.

Tìm xem ĐỊA KIẾP đóng tại đâu vì đây là 1 bộ sao. Tất nhiên ĐỊA KIẾP ở nhược cung. Là các cung Phụ Tử Nô Tật Huynh Điền.

THIÊN KHÔNG là ngôi sao làm mất tác dụng của các ngôi sao khác và gây ra những tai hoạ không ngờ, không lường trước được. Nguy cơ xấu lây các cung Phụ, Tử rất là cao.

Sinh Tháng 6.

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Điền Trạch cung.

THIÊN KHÔNG tại Quan Lộc cung. Dấu hiệu lận đận về công danh, nghề nghiệp. Tối kỵ cung nầy và Mệnh cung có tam KHÔNG...

Tìm xem ĐỊA KIẾP đóng tại đâu. Vì nó là 1 bộ sao tất nhiên nó ở tại các cường cung. Cung này ảnh hưởng đến Quan Lộc cung rất nhiều. Dù nó không lục hội hay nhị hợp nhưng nó hàm chứa bộ KHÔNG KIẾP.

Đặc biệt sinh giờ Thìn, Tuất có Mệnh KIẾP, Quan KHÔNG “có thể” gặp cách Quế Sứ Hoa Thương phùng THẤT SÁT

Sinh Tháng 7

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Phúc Đức cung.

Khi VĂN XƯƠNG đóng tại Phúc, tất nhiên VĂN KHÚC đóng tại các cường cung của Mệnh.

Mệnh cung kỵ bộ CỰ ĐỒNG.

THIÊN KHÔNG tại Điền Trạch cung đem lại những bất lợi cho cung Điền xem ĐỊA KIẾP đóng tại đâu. Hai cung này có ảnh hưởng xấu phối hợp với nhau.

Các cung Điền, Tật, Huynh kỵ bộ PHỦ TƯỚNG.

Sinh Tháng 8

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Phụ Mẫu cung.

Sinh tháng này cũng có nguy cơ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương phùng THẤT SÁT

THIÊN KHÔNG tại Phúc Đức cung. yếu tố xấu tại cung Phúc.

Thiên Di cung kỵ bộ THIÊN LƯƠNG phùng KHÔNG KIẾP.

Tìm xem ĐỊA KIẾP nằm ở đâu. ĐỊA KIẾP kỵ nhiều sao, tạo thành nhiều bộ sao xấu.  đáng sợ là đi với THIÊN HÌNH, tạo thành bộ sao HÌNH KIẾP. Đi với KỴ tạo thành bộ KỴ KIẾP, xoay quanh các bộ này lại sinh ra nhiều cách xấu khác.

Điều này không phải áp dụng cho người sinh tháng 8 mà áp dụng chung.

Sinh Tháng 9

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Mệnh.

Tất cả các trường hợp có Văn tinh hội họp tại Mệnh cung là tốt. Đó mới chỉ là 1 trong các điều kiện ắt có nhưng vẫn chưa đầy đủ. Cần phải phối hợp với các cách khác. Vì mới nói lên tính cách người có văn hoá, nghệ thuật ưa thích văn chương mà thôi. Cần phối hợp với nhiều cách tốt khác để thành công.

THIÊN KHÔNG tại Phụ Mẫu cung.

Tìm xem ĐỊA KIẾP đóng tại đâu. Vì đây là 1 bộ sao. Có thể gặp trường hợp KHÔNG KIẾP giáp Mệnh uy hiếp cung Mệnh. Nếu có, lại càng kỵ gặp thêm cách Hình Tù hiệp Mệnh, càng xấu thêm.

Sinh Tháng 10

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Huynh Đệ cung.

THIÊN KHÔNG tại Mệnh cung.

Thuộc cách Mệnh Không Thân Kiếp. Tức Mệnh có 1 cái Không… Thân có 1 cái nạn…

Trong trường hợp này lại kỵ gặp thêm HOẢ LINH, KÌNH ĐÀ, ĐÀO HOA, THIÊN HÌNH, tam KHÔNG đã xấu lại càng xấu thêm. Quá xấu.

Sinh vào 2 giờ Thìn Tuất rất xấu. Kỵ nhất sinh tháng 10 vào 2 giờ sinh này.

Dễ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương có THẤT SÁT

Sinh Tháng 11

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Phu Thê cung.

THIÊN KHÔNG tại Huynh Đệ cung. Có 1 yếu tố xấu tại Huynh Đệ cung.

Nếu sinh vào 2 giờ Sửu Mùi sẽ gặp cách KHÔNG KIẾP giáp MỆNH, gây áp bưc cung Mệnh. Lại càng kỵ gặp thêm cách HÌNH TÙ giáp Mệnh làm cho tình trạng càng xấu thêm 1 bậc nữa.

Khi có VĂN XƯƠNG tại Phối cung, không có gì tốt bằng lấy người phối ngẫu có văn hoá. Vợ chồng bàn chuyện văn chương văn hoá. Nếu có xung đột mâu thuẫn cũng giảm xấu rất là nhiều.

Sao VĂN KHÚC còn lại tất nhiên đóng tại cường cung của Mệnh hay nhất là Mệnh có VĂN KHÚC nếu Mệnh có VŨ KHÚC là cách Nhị KHÚC xuất tướng nhập tướng , văn võ song toàn.. Mệnh có VĂN KHÚC Phối có VĂN XƯƠNG là 1 cách hay. Vì XƯƠNG KHÚC là 1 bộ sao.

Cùng lúc Mệnh cung không bị ngộ KHÔNG hay KẾP.

Thường gặp lá số tốt sinh tháng này.

Sinh vào giờ Sửu hưởng cách THIÊN DIÊU tại Hợi vi minh mẫn. Duy nhất chỉ có 1 giờ sinh trong năm mà thôi.

Sinh Tháng 12

Luôn luôn có VĂN XƯƠNG tại Tử Tức cung.

Tìm thử xem có nguy cơ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương phùng THẤT SÁT không. Trường hợp này, chỉ có thể tìm thấy tại cung Phụ Mẫu.

THIÊN KHÔNG tại Phu Thê cung. Cung này có 1 yếu tố xấu.

Một khi THIÊN KHÔNG tại Phối cung, ĐỊA KIẾP cũng đang chiếm một cường cung quan trọng. THIÊN KHÔNG đóng tại Phối cung đem lại bất lợi cho cung này với nhiều phương diện khác nhau. Tuỳ thuộc vào các nhóm sao để kết luận. Từ cô thân đến những chuyện không ngờ do cung này gây ra.

Càng kỵ hơn các trường hợp tam KHÔNG

Trường hợp Phối THIÊN KHÔNG. Mệnh ĐỊA KIẾP là xấu.

Có khi cung này có cả bộ KHÔNG KIẾP. Phối cung trở thành tai hoạ của cuộc đời.

Giờ Sinh Và Đặc Điểm.

Sinh giờ Tý.

Thân Mệnh luôn luôn đồng cung.

Kỵ các sao THẤT SÁT, VŨ KHÚC, TRIỆT

THIÊN HÌNH luôn luôn ở Tật.

Diêu+ Y ở Huynh Đệ.

Tật cung kỵ nhất là THIÊN TƯỚNG toạ thủ tại đấy.

Nếu Mệnh đóng tại Tứ Mộ cung thường xấu so với trường hợp đóng nơi khác. Vì bộ KHÔNG KIẾP thường có mặt tại các cung quan trọng là cung Quan, Phối hoặc cung Tật.

Còn kỵ gặp thêm KỴ hình thành các bộ KỴ KIẾP.

Nếu ở cung Tật, tất có bộ HÌNH KIẾP. Một bộ sao chủ bị hành hạ và uy hiếp. Nguy cơ gặp nạn cao.

Kỵ gặp sao Tuyệt trong vòng TRƯỜNG SINH, gọi là Tuyệt xứ, bố cục thường không hay.

Xem thử các cung Điền Tật Huynh có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Đưa đến anh em xung đột tranh chấp thị phi.

Một là gặp CÁO PHỤ.có thể xấu.

Ba là XƯƠNG KHÚC được xem là dễ chịu nhất.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Phúc. Hợp nhất là có THIÊN PHỦ.

Sinh giờ Sửu.

Thân cư Phúc. Bà con là nơi thân nương tựa. Kỵ các trường hợp THẤT SÁT, VŨ KHÚC, TRIỆT, KỴ. đóng tại đấy.

THIÊN HÌNH luôn luôn ở Tài.

Tài cung kỵ nhất là THIÊN TƯỚNG toạ thủ, lại càng kỵ hơn nếu có thêm HOÁ KỴ. KÌNH DƯƠNG

Diêu+ Y ở Mệnh.

Duy nhất sinh tháng 11 là hay nhất Hưởng cách DIÊU Y tại Hợi vi minh mẫn.

Mệnh cung, nhất là nữ Mệnh kỵ sao THIÊN CƠ. Vì nặng dâm tính. Kỵ chung các trường hợp hợp có thêm HOÁ KỴ, ĐÀ LA. Tức hình thành các bộ tam Ám, nhị Ám... .

Xem thử các cung Mệnh Tài Quan có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành các bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại. Lại không thể gặp thêm KHÔNG KIẾP.

TẢ PHÙ ở Điền.

Dễ hưởng phúc từ cha mẹ, bà con nhờ Thân Mệnh ôm lấy Phụ mẫu.

Đa phần DIÊU tại Mệnh mù quáng, mê muội, thuốc men đau ốm. Vì từ sao này dễ hình thành các bộ nhị Ám. DIÊU ĐÀ, DIÊU KỴ hoặc tam Ám DIÊU ĐÀ KỴ.

Sinh giờ Dần.

Thân cư Quan. Lấy công danh làm trọng tâm. Tối kỵ gặp TRIỆT, KHÔNG, KIẾP, KỴ, VŨ KHÚC, THẤT SÁT.

Thân cư Quan lấy công danh, nghề nghiệp làm trọng. Nếu có KỴ dễ đưa đến đố kỵ. Dấu hiệu cho thấy khó thành nhất.

THIÊN HÌNH luôn luôn ở Tử Tức.  Cung này kỵ nhất là THIÊN TƯỚNG toạ thủ. Mệnh và Tử tương khắc, tương hình.

Diêu+ Y ở Phụ Mẫu.

Xem thử, các cung Phụ Tử Nô có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Bộ này đưa đến bất hạnh về tình cảm, lại là các cung gần gũi với Mệnh.

Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành các bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại. Lại không thể gặp thêm KHÔNG KIẾP.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Quan. Hợp nhất là sao THIÊN PHỦ, không kể các trường hợp ngộ THIÊN KHÔNG.

Sinh giờ Mão.

Thân cư Thiên Di. Lấy xã hội làm nơi giao lưu, dễ trôi dạt đi xa.

Kỵ các trường hợp THẤT SÁT, VŨ KHÚC, TRIỆT, THIÊN KHÔNG ĐỊA KIẾP. Tối kỵ nhất là bộ THIÊN KHÔNG THIÊN LƯƠNG lại Thân cư tại đó.

THIÊN HÌNH luôn luôn ở Phối. Kỵ các trường hợp có THIÊN TƯỚNG toạ thủ tại Phối. Hình thành các bộ KÌNH HÌNH, KỴ HÌNH.

HÌNH CÁO PHỤ rất kỵ bộ CỰ ĐỒNG, đưa đến phụ bạc lẫn nhau.

Nếu hình thành Hình XƯƠNG KHÚC được kể là dễ chịu.

Diêu+ Y ở Phúc.

Xem thử các cung Di Phúc Phối có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành các bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Nô. Dễ đi xa, sống xa quê hương.

Dễ bị Hình khắc với phối ngẫu.

Sinh giờ Thìn.

Thân cư Tài. Lấy tiền bạc tài sản làm quan trọng. Kỵ các trường hợp TRIỆT KIẾP, THIÊN KHÔNG, THẤT SÁT, VŨ KHÚC.

THIÊN HÌNH luôn luôn ở Huynh. Kỵ THIÊN TƯỚNG. Nếu có CÁO PHỤ kỵ bộ CỰ ĐỒNG.

Diêu+ Y ở Điền.

Xem thử các cung Tật Điền Huynh có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành các bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ.  Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Di. Nếu Thiên Di có đủ bộ TẢ HỮU. Hợp với các trường hợp có các chính tinh TỬ VI, THIÊN PHỦ.

Sinh giờ Thìn kỵ sinh vào tháng 4 và tháng 10. Kỵ nhất là Mệnh và Di gặp THIÊN LƯƠNG

Sinh giờ Tị.

Thân cư Phối. Lấy cung này làm nơi nương tựa vào.

Tối kỵ gặp TRIỆT, KIẾP, THẤT SÁT, VŨ KHÚC. Dễ gặp bất hạnh trong hôn nhân. Nếu có VŨ KHÚC càng kỵ thêm CÔ QUẢ và các sao cô độc khác. Như, LINH TINH

THIÊN HÌNH luôn luôn Mệnh.

Mệnh cung kỵ THIÊN TƯỚNG hình thành cách tương Hình. Tức là tương khắc lẫn nhau. Mặt sẽ bị so sẹo do thương tích.

Nếu có thêm CÁO PHỤ kỵ bộ CỰ ĐỒNG. Tính cách hỗn láo. Tính cách hỗn láo từ đó, đưa đến xung đột mâu thuẫn trên đường đời.

Nếu đi với XƯƠNG KHÚC giảm bớt phần nào xung đột.

Diêu + Y luôn luôn ở Quan.

Xem thử 3 cung Mệnh Tài Quan có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Ngoài bộ kể trên còn kỵ hình thành các bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

Tìm xem có hình thành bộ Nhị Ám, tam Ám không.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Tật.

Dễ hình khắc với mọi người vì quá mẫu mực.

Sinh giờ Ngọ.

Thân Mệnh đồng cung.  Kỵ các sao VŨ KHÚC, THẤT SÁT TRIỆT đóng tại đó.

Có câu:

“Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ, hoặc cư Tuyệt xứ”

Nếu Mệnh đóng tại Tứ Mộ cung thường xấu so với trường hợp đóng nơi khác. Vì bộ KHÔNG KIẾP thường có mặt tại các cung quan trọng là cung Quan, Phối hoặc cung Tật.

Kỵ trường hợp MỆNH đóng Tị Hợi có sao Tuyệt trong vòng TRƯỜNG SINH, gọi là Tuyệt xứ, bố cục thường không hay. Một là bộ KHÔNG KIẾP uy hiếp các cường cung. Hai là 2 cung Phụ, Tật. Hình thành bộ HÌNH KIẾP tại 2 cung này.

THIÊN HÌNH luôn luôn Phụ Mẫu.  Kỵ gặp chính tinh THIÊN TƯỚNG tương khắc với Phụ Mẫu cung. Nếu có càng kỵ thêm các sao KÌNH DƯƠNG, HOÁ KỴ.

Diêu + Y luôn luôn ở Nô.

Xem thử 3 cung Phụ Tử Nô có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ.  Đưa đến mâu thuẫn hình khắc với các cung vừa kể.

Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là dễ chịu.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Tài.

Sinh giờ Mùi.

Thân cư Phúc. Bà con là nơi thân nương tựa. Kỵ các trường hợp VŨ KHÚC, THẤT SÁT TRIỆT KỴ đóng tại đó.

THIÊN HÌNH luôn luôn Phúc, kỵ nhất lại có THIÊN TƯỚNG

Diêu + Y luôn luôn ở Di.

Xem thử có bộ tam Ám ở Thiên Di cung không. Nếu có dễ nghe lời xúi mà đi đó đi đây.

Xem thử 3 cung Phúc Phối Di có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là ít gây hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Tử. Nếu đủ bộ TẢ HỮU là tốt. Hợp với các chính tinh TỬ VI, THIÊN PHỦ. trường hợp có bộ TẢ HỮU + KHÔNG KIẾP là phức tạp.

Dễ hưởng phúc từ cha mẹ, bà con nhờ Thân Mệnh ôm lấy Phụ mẫu.

Sinh giờ Thân.

Thân cư Quan. Lấy công danh làm trọng tâm. Tối kỵ gặp TRIỆT, KIẾP, KỴ, VŨ KHÚC, THẤT SÁT.

THIÊN HÌNH luôn luôn Điền. Kỵ gặp THIÊN TƯỚNG có HOÁ KỴ, nhất là có KÌNH DƯƠNG anh em dễ tương tranh về nhà đất.

Diêu + Y luôn luôn ở Tật.

Bộ HÌNH DIÊU Y hội họp tại 3 cung Tật, Điền, Huynh

Xem thử 3 cung Điền Tật Huynh có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại. Xem thử có hình thành bộ nhị Ám, tam Ám không. Nếu có thường rất xấu trong quan hệ với cung ấy.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Phối. Nếu có đủ bộ TẢ HỮU, hoặc Mệnh có HỮU BẬT. Mệnh và Phối cung rất đắc lực.

Kỵ gặp các trường hợp bộ này phối hợp với KHÔNG KIẾP, trở thành phức tạp.

Sinh giờ Dậu.

Thân cư Di. Lấy xã hội làm nơi giao lưu dễ trôi dạt đi xa. Kỵ các trường hợp THẤT SÁT, VŨ KHÚC, TRIỆT, THIÊN KHÔNG ĐỊA KIẾP.

Nếu thấy KHÔNG KIẾP tối kỵ gặp THIÊN ĐỒNG, THIÊN LƯƠNG hội họp. Sẽ gặp tai hoạ do tiếp xúc, đi lại với xã hội bên ngoài.

THIÊN HÌNH luôn luôn Quan.

Kỵ gặp THIÊN TƯỚNG đưa đến tương tranh trong nghề nghiệp. Kỵ gặp thêm HOÁ KỴ KÌNH DƯƠNG.

Diêu + Y luôn luôn ở Tài.

Dễ đi xa, sống xa quê hương.

Dễ sinh cờ bạc, mê muội vì tiền đưa đến hại tài sản.

Xem thử 3 cung Mệnh Tài Quan có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Huynh. Được cung này trợ giúp nhất là có đủ bộ. Hoặc Mệnh và Huynh có các sao TỬ VI, THIÊN PHỦ rất đắc lực. Phức tạp là trường hợp. bộ TẢ HỮU đi với KHÔNG KIẾP.

Sinh giờ Tuất.

Thân cư Tài. Lấy tiền bạc tài sản làm quan trọng. Kỵ các trường hợp Thân cư vào đấy gặp TRIỆT, KIẾP, THIÊN KHÔNG, THẤT SÁT. VŨ KHÚC.

Nếu có KHÔNG KIẾP hội họp. Kỵ nhất là trường hợp Mệnh có THIÊN LƯƠNG.

THIÊN HÌNH luôn luôn Nô.

Kỵ THIÊN TƯỚNG gây tương hình với nô bộc bạn bè. Nếu có kỵ gặp thêm KÌNH DƯƠNG

Diêu + Y luôn luôn ở Tử.

Xem thử 3 cung Phụ Tử Nô có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Mệnh. Tìm xem HỮU BẬT đóng ở đâu.

Dễ gặp cách Tả Hữu đơn thủ tại MỆNH ly hương sở nghiệp, cha mẹ anh em hình khắc. Cũng dễ gặp Tả Hữu Mộ cung nơi đắc ý nhất của Tả Hữu.

Bộ sao này phù hợp nhất là đi với TỬ VI, THIÊN PHỦ. Nếu có bộ này thêm KHÔNG KIẾP trở thành phức tạp.

Sinh giờ Tuất vào các tháng 4, 10 bố cục lá số rất xấu.

Sinh giờ Hợi.

Thân cư Phối là tấm thân nương tựa vào cung này. Vì thế tối kỵ gặp TRIỆT, KIẾP, THẤT SÁT, VŨ KHÚC.

THIÊN HÌNH luôn luôn Di.

Kỵ gặp THIÊN TƯỚNG nhất là có KÌNH DƯƠNG dễ gặp xung đột mâu thuẫn thuẫn khi đi ra ngoài.

Diêu + Y luôn luôn Phối.

Kỵ gặp tam Ám, Nhị Ám dễ mê muội trên con đường tình ái.

Xem thử 3 cung Phúc Phối Di có hình thành bộ HÌNH CÁO PHỤ không. Bộ này kỵ gặp bộ CỰ ĐỒNG. Còn kỵ gặp thêm KIẾP, KỴ hình thành bộ HÌNH KIẾP, HÌNH KỴ. Nếu hình thành bộ HÌNH XƯƠNG KHÚC là vô hại.

TẢ PHÙ luôn luôn ở Phụ Mẫu. Nếu cung này có đủ bộ TẢ HỮU, hoặc Mệnh và cung này có các sao TỬ VI, THIÊN PHỦ rất đắc lực cho Mệnh.

Dễ hình khắc với mọi người vì quá mẫu mực.

Tả Phù đóng tại Phụ Mẫu là hợp lý nhất.

Dễ hưởng cách Tả Hữu giáp MỆNH.

Năm sinh và số mệnh.

Mệnh cung cần gặp các sao LỘC TỒN hoặc tam hợp có sao này. Trừ trường hợp đồng cung với BỆNH PHÙ phức tạp. Vì LỘC TỒN đại diện cho tuổi tính theo hàng Can, chủ sự tồn tại. Nhưng đáng nói không phải trường hợp nào có LỘC TỒN hội họp đều tốt đẹp, nó kỵ 2 chính tinh CỰ, PHÁ.

Nếu Mệnh cung không có LỘC TỒN cần gặp bộ TUẾ HỔ PHÙ. Có hay không có PHƯỢNG CÁC vẫn tốt. Trừ trường hợp THÁI TUẾ có ĐÀ LA đồng cung hay tam hợp thấy LA VÕNG, tức TUẾ ĐÀ Dần Thân phức tạp.

Đây là ngôi sao đại diện cho tuổi tính theo hàng Chi. Việc ngồi đúng vị trí giúp người ta có lý lẽ và mọi việc đều tốt.

Bằng không, gặp nhóm ĐÀO HỒNG HỈ. Bộ sao chủ sự vui mừng. Vui mừng cũng có nghĩa là tốt đẹp, thành công.

Mỗi năm do hàng Can hoá khí cho một số chính tinh. Hoá khi tốt là nhóm tam Hoá KHOA QUYỀN LỘC và hoá khí xấu là HOÁ KỴ. Do đấy nếu không được LỘC TỒN hay THÁI TUẾ hoặc ĐÀO HỒNG HỈ. Nhưng có hoá khí tốt đẹp vẫn thành công.

Dễ hiểu. Ví dụ cụ thể.

Năm Bính Thân hoá khí là:

Đồng Cơ Xương Liêm. Ứng với LỘC QUYỀN KHOA KỴ.

Vậy các chính tinh nhóm CƠ ĐỒNG đi với VĂN XƯƠNG hưởng hoá khí KHOA QUYỀN LỘC. Thiếu VĂN XƯƠNG cũng được hưởng QUYỀN LỘC. Cho nên dù không có LỘC TỒN  hay THÁI TUẾ thì có Quyền Lộc tất thành công. Nếu không thành công tại sao anh có quyền, có lộc. Dĩ nhiên những người có LỘC TỒN thành công lớn hơn rất nhiều, hoặc THÁI TUẾ cũng được. Đáng tiếc năm Bính Thân có cách TUẾ ĐÀ, nên phải dùng chữ tạm được.

Kỵ nhất là chính tinh LIÊM TRINH bị hoá khí là HOÁ KỴ. Sao này bỗng dưng bị nghi kỵ, nghi ngờ, ghét bỏ... Càng tồi tệ hơn khi có THIÊN HÌNH chứng tỏ đã vi phạm.

Cũng lý luận như trên với năm Đinh Dậu.

Đinh: Nguyệt Đồng Cơ Cự. Ứng với LỘC QUYỀN KHOA KỴ.

THÁI ÂM hoá khí thành HOÁ LỘC.

THIÊN ĐỒNG hoá khí thành HOÁ QUYỀN.

THIÊN CƠ hoá khí thành HOÁ KHOA.

CỰ MÔN hoá khí thành HOÁ KỴ

Như vậy nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hoàn toàn có lợi thế. Ngay cả Tử Vi  cư Ngọ năm Đinh nằm trong câu Phú:

“Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ. Giáp Đinh vị Kỷ chí công khanh”

Chưa chắc, và chắc chắn là thế. Không thể hay bằng nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG toạ thủ tại cung Ngọ. Có HOÁ LỘC lại thêm LỘC TỒN thành cách Song Lộc.

Nếu có chính tinh tốt tất có chính tinh xấu. Đó là CỰ MÔN

Vậy giờ sinh, tháng sinh còn tuỳ thuộc vào vào năm sinh. Tính phức tạp của TỬ VI rất là cao. Càng phức tạp cao bao nhiêu, tính chính xác cao bấy nhiêu.

Vậy rất khó chọn mẫu số chung cho những sinh cùng 1 năm, hoặc sinh cùng tháng hay cùng giờ. Chỉ có 1 vài nét giống nhau giữa trăm ngàn nét khác nhau.

Các bộ sao thường xuất hiện trong tháng sinh và giờ sinh.

XƯƠNG KHÚC CÁO PHỤ:

Kỵ nhất gặp thêm bộ CỰ ĐỒNG. Chủ thứ văn chương xúc phạm kẻ khác nhất là người có vai vế cao hơn mình. Tùy theo mức độ nếu thêm KỴ, thêm TẤU có thể bị lôi kéo ra tòa (bị khởi tố). Thứ nhì là bộ ÂM DƯƠNG LƯƠNG.

Bộ XƯƠNG KHÚC CÁO PHỤ này hoàn toàn phù hợp nếu thấy có THIÊN TƯỚNG nói riêng PHỦ TƯỚNG nói chung, kể cả các trường hợp có THIÊN TƯỚNG tam hợp. Không kể trường hợp xung chiếu (tức là PHÁ QUÂN toạ thủ). Chủ văn chương, văn thư ca ngợi. Nếu thấy VŨ KHÚC là cách đa tài, đa năng.

Hai bộ sao vừa kể có thể gặp Mệnh cung và

XƯƠNG KHÚC THƯƠNG SỨ.

Rất kỵ có THẤT SÁT cách “đa khổ tai ương”.

Chỉ nhìn thấy bộ này tại các vị trí cung Phụ Mẫu và Huynh Đệ. Từ 2 cung này nếu thấy thêm THẤT SÁT, bất ky ở đâu. Là cách Quế Sứ Hoa Thương đa khổ tai ương.

Lại nếu thấy XƯƠNG KHÚC đi với CÁO PHỤ lại kỵ bộ CỰ ĐỒNG. Lại sinh chuyện xung đột, mâu thuẫn với các cung Nô Phụ Huynh Tử. Cung nào thấy là cung ấy sinh chuyện.

XƯƠNG DIÊU Y: (đồng cung)

Chủ văn chương đồi trụy. Tùy thuộc Bàng tinh hội họp để quyết đoán ham thích viết, xem, coi, đọc các loại dâm thư này. Kỵ đi chung với THIÊN TƯỚNG, THIÊN CƠ.

HÌNH XƯƠNG KHÚC:

Chủ phương pháp viết văn, làm thơ... còn chủ văn thư, thư tịch có tính bắt bẻ.

Bộ sao này hợp nhất là đi với HOÁ KHOA. Và nó kỵ đi với bộ KHÔI VIỆT. Vì văn chương có khi mang hoạ lớn.

HÌNH CÁO PHỤ:

Bộ này thường hay phối với XƯƠNG KHÚC. Đây là bộ sao kỵ cho bộ CỰ ĐỒNG đưa đến phụ bạc.

Kỵ gặp thêm KỴ hình thành các bộ HÌNH KỴ.

KHÔNG KIẾP TẢ HỮU:

Bộ sao này chủ tiếp tay với kẻ xấu. Nếu gia thêm BINH TƯỚNG, TANG ĐIẾU, SÁT PHÁ THAM càng hung, dễ gặp họa.

Phối hợp giữa giờ sinh và tháng sinh. Ta có những điểm rất đặc biệt. Chỉ sinh vào giờ đó, tháng đó với các cách kể trên. Dù giờ sinh hay tháng sinh có vẻ dễ chịu chưa chắc đã phù hợp với năm sinh.

Ví dụ cho rõ nét.

Năm nay Bính Thân (bài này viết vào năm Bính Thân trong FBD, thắm thoát đã 10 năm) hay Bính Ngọ cũng thế, Kỵ sao LIÊM TRINH là bộ sao mô tả lòng trong sáng bị nghi ngờ. Nguy cơ cao là có thêm HÌNH, ĐÀ LA, KÌNH DƯƠNG... làm cho xấu thêm. May ra có HOÁ KHOA là có thể tốt.

Do đấy, một lá số tử vi tốt đẹp là phối hợp nhịp nhàng, giữa giờ ngày tháng năm sinh. Trời chẳng cho ai tất cả. Cũng đừng nghĩ rằng mình là ông trời chọn giờ sinh tốt để mổ. Chỉ có bọn ba xạo, ba hoa khoác lác, ưa chi nói nấy. Còn bản thân mình dễ tin. Chẳng qua là nghe lời xúi bậy bọn lừa đảo thì có. Thế thì đừng hỏi. Làm thế nào tránh cách LINH XƯƠNG LA VŨ. Trong khi số phận mình mê muội bị DIÊU ÁM, lại dễ tin vào những chuyện với người khác người ta phì cười, mình lại tin.

Nếu cung Tử Tức của mình không tốt. Tất không tốt chuyện này, ắt không tốt chuyện khác.

Số sinh con quý, hiền cái đó đã an bài rồi. Con quậy cũng đành chấp nhận thế thôi. Chưa nói đến, mình hay ho gì đâu đòi hỏi con mình hay.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2025

Dòng Máu Anh Hùng.

 Chúng ta thường nghe. Dòng máu lạc hồng, dòng máu anh hùng, dòng máu yêu nước, dòng máu cao quý, dòng máu lưu lạc... Và không thể nhắc đến câu chuyện bi thương bán máu để sống, còn có nợ máu trả bằng máu. Nhưng trước hết theo Y học có bao nhiêu loại máu? Có 4 loại máu căn bản là A, B, AB và O. Từ 4 loại này căn cứ vào kháng nguyên (RH) người ta lại phân ra thành 8 loại. ARH + và ARH - Phân tích sâu hơn có trên 40 loại máu do tính kháng nguyên của nó. Là 1 chiến binh bạn không thể nào quên bản thân mình toại loại máu nào và được khắc lên thẻ bài của bạn. Khi có thương tích người ta truyền máu mà không chờ qua xét nghiệm máu. Nếu bạn hỏi các nhà huyết học. Loại máu nào là máu anh hùng? Máu nào là máu dê? Chắc chắn câu trả lời khôn ngoan nhất là. Chúng tôi chưa nghiên cứu tới.

Vậy trong TỬ VI có bao nhiêu dòng máu? E rằng còn nhiều hơn thế nữa. Nhưng trước hết cần biết máu là sao gì trong TỬ VI. Ta đã biết THIÊN TƯỚNG là mặt, THIÊN CƠ là cơ thể, da thịt, THIÊN MÃ là tay chân. BẠCH HỔ là xương cốt... và máu là HỒNG LOAN... Có bao giờ bạn thắc mác màu đỏ còn được người Hoa dùng các từ “xích” như, Xích Long rồng đỏ. “chu” như, chu sa. Từ chu chỉ đỏ đậm. “Hồng” chỉ màu đỏ nhạt.

Người ta đặt tên là HỒNG LOAN có nhiều lý do. Vì HỒNG vừa chỉ màu đỏ, còn chỉ sự to lớn so sánh với sao ĐẠI HAO, THIÊN KHÔI, CỰ MÔN. Ví dụ tốt là quyền ăn tó nói lớn, có ví dụ tốt tất có ví dụ xấu không tiện kể ra đây. HỒNG còn liên quan đến sự “chảy tràn lan” như lũ lụt, dòng máu loan ra khắp nơi... Vậy HỒNG LOAN thuộc nhóm sao màu sắc và thuộc nhóm sao chủ sự kiện to lớn khi đi với các sao cùng nhóm hay nhất là cách HỒNG KHÔI. HỒNG LOAN còn thuộc nhóm sao nói năng, tuyên bố. Nghĩa HỒNG LOAN thường gặp là loan báo 1 điều gì đó. Trong thiên nhiên nó là con chim. Trong đời sống. Ví dụ rất dễ hiểu, tiếng rao hàng, quảng cáo, chửi bới, xướng ngôn viên, phát thanh viên, dư luận đồn thổi... đều là HỒNG LOAN tùy thuộc vào hung, cát tinh tạo thành các mẫu người như vậy. Ta căn cứ vào các sao đi kèm để luận đoán. Bài viết này bàn về HỒNG LOAN khi nào đoán nó chỉ về máu.

Duy nhất trong cơ thể chúng ta chỉ có máu là màu đỏ. Từ máu sinh ra không biết bao nhiêu căn bệnh liên quan đến máu, mạch máu, tuần hoàn máu, áp lực do máu sinh ra đưa đến vỡ mạch máu. Máu là nguyên nhân của bệnh tim mạch... Khi máu ít hồng cầu nhiều bạch cầu chứng tỏ đang nhiễm trùng. Chúng ta tạm cho qua phần chứng minh HỒNG LOAN là máu

Nhiều người thường hãnh diện tự hào là dòng máu Lạc Hồng nhưng liệu họ đã làm nên sự nghiệp gì cho dòng giống Việt. Vô tích sự là chuyện rất dễ gặp còn đỡ hơn làm những chuyện lừa đảo, giết người làm tủi nhục quốc gia. Đó là trường hợp HỒNG LOAN đồng cung với BỆNH PHÙ QUỐC ẤN là dòng máu xấu. Nếu có Cát Xứ Tàng Hung hay KỴ HÌNH, Sát tinh rõ ràng khủng khiếp không còn từ để gọi.

Dòng máu anh hùng, hào kiệt.

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt.

Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung”. Chinh Phụ Ngâm, Đoàn Thị Điểm.

Nếu có những anh hùng, hào kiệt tất nhiên lại có máu nhát gan trốn lính, đào ngũ đến tự hủy hoại thân thể để giải ngũ hoặc miễn nhập ngũ đến đầu hàng giặc. Từ đó ta lại có máu phản quốc, lại có cả máu làm tay sai cho giặc. HỒNG LOAN đi với Cát Xứ Tàng Hung sinh ra loại máu như thế. Căn cứ vào hung, cát tinh để luận.

Máu cờ bạc.

Nếu có máu hào kiệt xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Ta lại có xếp bút nghiên trốn học đi chơi. Máu cầm đao cung sẵn sàng bảo vệ đất nước lại có máu cầm quân bài, ngồi đang quạt. Máu này phụ nữ mạnh hơn nam giới. Nam giới lợi thế là cá độ. Đó là máu cờ bạc còn gọi là máu đen đỏ. Tức HỒNG LOAN chủ đỏ, ĐẠI HAO chủ đen. Đi với nhóm SÁT PHÁ THAM hay KHÔNG KIẾP được mất thất thường. Nếu có Tam Ám tất thị mê muội đến tán gia bại sản. Nếu có Tam KHÔNG càng không có gì để mất. An nhiên tự tại nếu bị “tu huyền” càng sướng khỏi lo cái ăn cái ở. Nếu có ra thì xin vô trở lại, can cớ chi làm kẻ vô gia cư

Dòng máu trăng hoa.

Trăng hoa là cách THÁI ÂM chủ trăng. ĐÀO HOA chủ hoa nếu có thêm HỒNG LOAN Trong trường hợp này HỒNG LOAN không la to lại thâm thì vì đi với THÁI ÂM mới gọi là máu trăng hoa. Trăng hoa là hình tượng đẹp. Đếm trắng sáng có hoa đẹp và tiếng nói líu lo của HỒNG LOAN. Dù có học 2 chữ chung thủy thì cũng quên béng. Bộ sao này có khi còn hỗ trợ của KÌNH DƯƠNG khêu gợi... ĐÀ LA lôi kéo.... đến thánh nhân cũng không chịu nỗi. Nhưng đã là thánh tất không có cách này tại Mệnh, Thân Cung Thiên Di, cung Tật Ách đến cả cung đại hạn cũng không có. Nhờ đó, có người có, có người không thể xảy ra. Có kẻ lập lờ giữa 2 trạng thái.do xảy ra tại cung đại hạn.

Máu dê.

Còn gọi là máu 35. Có lẽ trong số đề các nhà toán học đại tài phong con dê số 35. Nếu nhiệt độ cơ thể có 35 độ e rằng đang nhiễm lạnh sắp đi xa. Muốn có máu dê khỏi tốn tiền mua thuốc cường dương hãy rình xem con dê ăn cái gì, bạn hãy ăn cái đó. Vì chính thức ăn giúp cơ thể khỏe mạnh. Uống thuốc chẳng qua là 1 hình thức thay vì ăn chuyển qua uống. Máu dê trong tự nhiên sinh ra khỏi cần thuốc men là THAM LANG. LIÊM TRINH (2 sao này được gọi là ĐÀO HOA thứ 2. “Vi thứ ĐÀO HOA cách”) đi với ĐÀO HỒNG.có BỆNH PHÙ. Cho dù có Song LỘC, KHOA QUYỀN nó chẳng cứu giải được cách này. Trước mắt các cách tốt đẹp kia chẳng liên quan. Có chăng càng có nhiều tiền, nhiều quyền càng dê mạnh hơn. Nếu Mệnh có cách này sinh ra đứa con cũng có cách này tại Mệnh tức là có di truyền ADN máu dê. Khỏi cần kiểm tra ADN làm gì cho tốn tiền.

Có khi không có HỒNG LOAN tại Mệnh, Thân hay cung Tật Ách cũng bị gọi là máu dê. Vì sao có chuyện lạ lùng như vậy. Vì bị đối tượng khác giới khêu dâm, lôi kéo. Đó là các cách ÂM phùng HAO đối với nam, với nữ là cách DƯƠNG CỰ HAO. Cách DƯƠNG CỰ còn gọi riêng là cách dệ cụ. Máu dê là bản năng sinh tồn của loài người và loài vật.

Máu nóng, máu lạnh.

Coi chừng nó nổi máu nóng sinh chuyện. Từ máu nóng sinh ra máu điên, máu khùng là do HỒNG LOAN đi với HỎA TINH LINH TINH. Vì thế sinh ra câu phú.

“SÁT, PHÁ khủng phùng HỎA HAO”..

Đi với HỒNG LOAN là máu điên khùng nổi lên. Lúc đó HỒNG LOAN la lớn “Tao sẽ giết mày” và cũng là lúc ứng nghiệm HỒNG LOAN là dòng máu loan ra khắp nơi. Còn có ĐÀO HOA thì sao? Nghe nói ĐÀO HOA là ngôi sao vui vẻ, bên cạnh luôn luôn có các sao Nhị Đức? Vui vẻ, vui mừng là đi với cát tinh, Hỉ tinh, đi với SÁT PHÁ Sát Tinh KHÔNG KIẾP, HỎA TINH, LINH TINH, KỴ HÌNH là tạo sát, tạo ác nghiệp. Đức ở đây là thất đức..ĐÀO HOA là sao chủ “tạo ra” tốt xấu tùy thuộc vào Cát, Hỉ tinh, Hung, Sát tinh đi kèm.

Từ bộ máu nóng HỎA TINH, máu lạnh LINH TINH đưa đến xả súng, đâm dao náo loạn.

Máu tham.

Ta lại đến dòng máu khác.

“Mụ càng tô lục chuốc hồng.

Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” Kiều Nguyễn Du.

Nguyễn Du viết, khỏi cãi. Máu THAM LANG + HỒNG LOAN. Và HỒNG LOAN luôn luôn nhị hợp với THIÊN ĐỒNG. Đúng chưa? Chắc đúng rồi. HỒNG LOAN lại luôn luôn nhị hợp với ĐIẾU KHÁCH. Bên ĐIẾU KHÁCH THIÊN ĐỒNG xùy tiền đồng ra nghe leng kheng. Bên THAM HỒNG bèn nổi máu tham. Thậm chí ngày nay thấy ĐIẾU KHÁCH THIÊN ĐỒNG đến làm việc là bên THAM HỒNG nói “đầu tiên” cần làm là gì. Máu THAM HỒNG đi với LƯU HÀ lại thêm KHÔNG KIẾP KHOA QUYỀN khỏi nói nó khủng khiếp như thế nào. Ngày nay, nằm trong hộp cũng rất nhiều và cũng trả lại rất nhiều nhưng nạn nhân mấy khi được nhận lại. Từ đó sinh ra thành ngữ “lòng tham không đáy”.

Máu ghen.

Nói đến máu ghen người ta thường nói máu Hoạn Thư hoặc “Ớt nào mà ớt chẳng cay”

“Bây giờ mới rõ tăm hơi,

Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen” Kiều Nguyễn Du.

Sinh ra câu phú.

“ĐÀO, HỒNG SÁT PHÁ LIÊM THAM

Lâm vào nữ phái chỉ hiềm sát phu”.

Sát đây có nghĩa là ép buộc (ép là THẤT SÁT, buộc (là PHÁ QUÂN). Áp đặt, nói theo ngôn ngữ chính trị là kềm kẹp. Sát đây chưa hẵn là giết (Xem bài KỴ KIẾP) và từ cách này đưa đến mất chồng là THẤT SÁT, bỏ chồng hoặc chồng bỏ là PHÁ QUÂN   Hết ham là THAM LANG.Bộ sao kể trên đi với LỘC TỒN là Cát Xứ Tàng Hung, đi với HAO tinh có HỎA tinh là cách SÁT PHÁ khủng phùng HỎA HAO. Đi với nhóm PHI PHỤC THANH dù có tái hợp cũng lại bỏ nhau lần nữa. Đi với KHÔNG KIẾP rất đáng sợ sớm muộn gì cũng bị bắt.

Máu lưu lạc, máu giang hồ.

Có 2 loại máu giang hồ.

Cuộc sống trên sông nướcViễn xứ tha phương.

Giang hồ với nghĩa hay đi lại hoặc sống trên sông nước do nghề nghiệp hoặc cuộc sống trên sông hồ. Hoặc có máu lập nghiệp phương xa, đáo xứ khất cầu, tha phương cầu thực... Đó là do bộ HỒNG LOAN LƯU HÀ đi với CỰ MÔN hoặc VŨ KHÚC, ngoài ra có thể kể thêm là THAM LANG, THIÊN ĐỒNG. Hai sao vừa kể do người thân đi nên mình đi theo.

Giang hồ cộm cán

Là LƯU HÀ HỒNG LOAN đi với SÁT PHÁ THAM hoặc đi với nhóm TỬ VŨ LIÊM lại đi với Sát tinh. THẤT SÁT thành thất phu, VŨ KHÚC thành vũ phu bạo lực. Trong đó LƯU HÀ ưa xâm trổ, HỒNG LOAN ưa hăm dọa, khủng bố. Từ đây sinh ra từ nợ máu.

Máu thanh xuân.

Bộ HỒNG THANH. Gồm 2 sao HỒNG LOAN và THANH LONG.

Ai cũng có thời kỳ có máu thanh xuân trong người. Đó là thời điểm thanh, thiếu niên. Đáng nói là khi trẻ không có bộ sao này khi lớn tuổi lại gặp, người ta gọi là hồi xuân. Và có người cho rằng; đem máu người thanh xuân truyền qua người cao tuổi sẽ trẻ lại. Đọc tin tức này người viết cảm thấy hãi hùng, nguồn máu ấy lấy ở đâu? Người ta bán máu, hiến máu để cứu người không phải để giúp người giàu cao tuổi để trẻ lại. Liệu những người giàu kia đã làm điều gì có ích cho xã hội hay là kẻ ăn bám xã hội, kẻ làm hại xã hội, bóc lột lừa đảo người để giàu có? Do đọc bản tin kia người viết lấy hứng viết nên bài này.

Bộ HỒNG THANH là bộ sao có nhiều mâu thuẫn.

Mâu thuẫn về sắc màu. Màu xanh THANH LONG chỏi với màu đỏ HỒNG LOAN thường chỉ dùng trong quảng cáo.

Trước HỒNG LOAN la to thế này, nay THANH LONG thanh minh nhẹ nhàng kiểu khác.

Đi với HÓA KỴ dư luận người ta cười chê.

Tối kỵ đi với THIÊN HÌNH dễ bị thanh trừng nhất.

Dòng máu cao quý,

Dòng máu này không có nghĩa cứ sinh ra trong gia tộc lớn là có dòng máu này. Trong các gia tộc lớn khi suy tàn sinh ra những kẻ yếu hèn. Trong đám bình dân có thể sinh ra dòng máu cao quý. Đó là bộ HỒNG KHÔI do 2 sao HỒNG LOAN và THIÊN KHÔI cần phối với THANH LONG để tránh HAO tinh, KÌNH ĐÀ.

Bộ HỒNG KHÔI mang ý tiếng nói có giá trị, tiếng nói quý nhân, tiếng nói người cao qúy.

Là bộ sao được đánh giá hay nhất dòng máu cao quý. Hợp nhất đi với bộ CƠ LƯƠNG, PHỦ TƯỚNG đơn thủ hay TỬ PHỦ VŨ TƯỚNG LIÊM. Tối kỵ đi với THIÊN HÌNH thành cách HÌNH KHÔI tội lớn. Đi với KHÔNG KIẾP thành nạn lớn.

Từ cách này sinh ra các câu phú.

“KHÔI LƯƠNG THANH VIỆT CÁI HỒNG.

Nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi”

Chú ý HOA CÁI và HỒNG LOAN không bao giờ gặp nhau. Có nghĩa là các trường hợp

THIÊN LƯƠNG KHÔI VIỆT HỒNG THANH LONG đi với HOA CÁI hoặc HỒNG LOAN

Để thấm thía bộ HỒNG KHÔI THANH không có gì hay hơn xem Lá Số TỬ VI Thú Vị 1.

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2025

CỰ ĐÀ Cách.

Bài viết nhân ngày bão 12 Phong Thần ghé thăm nơi người viết ở.

Khi viết chữ bão ta viết dấu ngã nhưng khi đề cập đến sai bảo, bảo vệ... ta viết dấu hỏi. Đối với người Việt chúng ta không có gì lạ nhưng người nước ngoài học tiếng Việt là cả bầu trời xa lạ. Sẽ có người ngạc nhiên điều đó có liên quan gì đến TỬ VI không nhỉ? Nghe qua có vẻ như là không liên quan nhưng nó cực kỳ quan trọng với 1 số người học TỬ VI. Vì sao ư ?. LỘC TỒN nó giàu... ĐÀO HOA nó đẹp, VŨ KHÚC tài ba.... Vì sao lá số này nó lại đi lừa đảo, ăn trộm. Nếu bạn đồng ý sự khác biệt của dấu hỏi, ngã và đang học TỬ VI bạn sẽ thấy CỰ MÔN LỘC TỒN là Cát Xứ Tàng Hung. CỰ MÔN ĐÀ LA tất sinh dị chí nó khác hẵn với CỰ MÔN KÌNH DƯƠNG, CỰ MÔN ĐẠI HAO ... Và ngay cả CỰ MÔN ĐÀ LA đồng cung với LỰC SĨ cũng khác với QUAN PHỦ. Đi với THÁI TUẾ khác hẵn với THIÊN HƯ TUẾ PHÁ nhưng nhìn chung cách CỰ ĐÀ là tất sinh dị chí.

Phú viết

“CỰ MÔN ĐÀ LA tất sinh dị chí”.

Một câu phú cực kỳ giản dị. Vậy dị chí là gì?

Dị chí là chí hướng khác thường. Dị là khác với thông thường như, dị tượng, dị hình... Chí là chí hướng không phải như 1 số sách TỬ VI cho là “DỊ Chí” là nốt ruồi lạ.

Chí hướng khác thường là gì? Thay vì thi đỗ ra làm quan chức nhưng từ chối đi hoạt động chính trị. Học ngành Y nhưng ra đời lại thích làm 1 nghề nghiệp không liên quan. Ví dụ như làm môi giới nhà đất. Tự dưng bỏ đi tu mặc dầu hoàn cảnh không có gì khó khăn. Không có 1 lý do rõ ràng. Đang là công chức, tư chức văn phòng bỏ phố về quê làm nông dân hoặc chăn nuôi. Một cống việc hầu như xa lạ trái với sức khỏe và hiểu biết. Ta còn gặp nhiều dạng dị chí khác.

Đang sống bình yên tự dưng bỏ nhà ra đi với nhiều mục đích khác nhau. Kẻ theo trai, người theo gái. Có kẻ giận hờn do 2 sao HỎA TINH, LINH TINH tác động đến cha mẹ, con cái. Có kẻ cho là đi tìm chân lý, tìm chân trời mới. miền đất hứa, đi tu tiên. Tiên đâu không thấy có khi “tu” đồng âm với chữ “tù”.

Đi đâu cho mệt. Lên mạng phản đối, tố cáo những gì liên quan đến mình. Lại có những dị chí khác ủng hộ có, phản đối có mặc dù chẳng liên quan và drama mở rộng ra. Từ trong nước lan ra cả nước ngoài để phân biệt thắng thua chuyển qua kiện tụng. Ta lại có thêm thầy kiện nhập cuộc câu chuyện cứ thế kéo dài bất tận. Chưa hết vui, hôm nay ủng hộ, ngày mai phản đối. Ủng hộ việc này nhưng phản đối việc khác.

Kiện tụng lung tung như kiểu con kiến kiện củ khoai.  Vì thế có câu.

“CỰ ĐÀ TẤU TUẾ 1 đoàn.

Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn”.

“CỰ ĐÀ TẤU TUẾ phận nghèo.

Một thân lên thác xuống đèo không yên”.

Chú ý cách CỰ ĐÀ này đi với với bộ TẤU TUẾ đã kiện tụng thì phải viết TẤU THƯ và cần có lý lẽ THÁI TUẾ. Ngày nay việc đơn thư do các thầy kiện viết nhưng CỰ ĐÀ phải nói ra để các thầy viết.

Dễ lầm cách khác thường CỰ ĐÀ với phi thường (có liên quan đến PHI LIÊM...) và dạng kỳ lạ (liên quan đến bộ KHÔI KỴ). Ngoài ra dễ lầm với cách “Không Giống Ai của cách ĐỒNG KHÔNG.

Vì sao có chuyện lạ thường như thế. Vì CỰ MÔN ngôi sao chủ phản, trong thân thể là cái miệng. Hình tượng nhà đất là cái cổng. So sánh các tổ chức CỰ MÔN là môn phái lớn. CỰ là to và MÔN là môn phái. Do CỰ MÔN lục hội với ngôi sao TỬ VI chủ lãnh đạo nó không chịu thua bao giờ.

Có bao nhiêu dạng CỰ ĐÀ.

Xét theo chính tinh, ta có 2 dạng căn bản.

CỰ ĐÀ nằm trong bộ CỰ NHẬT

CỰ ĐÀ nằm trong bộ CỰ ĐỒNG CƠ.

Từ 2 dạng trên bộ CỰ ĐÀ thường đồng cung với LỰC SĨ hay QUAN PHỦ. Và đi với nhóm TIỂU PHỦ HỈ hoặc LỰC TẤU ĐẠI lại phối với các nhóm TUẾ HỔ PHÙ và TANG HƯ KHÁCH, ĐÀO HỒNG HỈ... tạo ra nhiều dạng CỰ ĐÀ khác nhau về bản chất nhưng giống nhau về nội dung là rất khác thường.

Từ các dạng kể trên còn phối với CÁO PHỤ, KHÔNG KIẾP, HỎA LINH, XƯƠNG KHÚC TUẦN TRIỆT, KHÔI VIỆT tạo ra nhiều cách dị chí khác nhau.

Từ các dạng CỰ ĐÀ có THÁI TUẾ là ngôi sao có lý lẽ lập trường. CỰ MÔN vận dụng tốt ĐÀ LA là ngôi sao giỏi lôi kéo, lôi cuốn. Với cách này CỰ ĐÀ THÁI TUẾ có thể lôi kéo 1 số người về phe của mình. So sánh với CỰ ĐÀ HƯ, tức là đi với THIÊN HƯ TUẾ PHÁ chẳng lôi kéo đưuọc ai. Cái miệng méo xệ. Cái cổng xiêu vẹo...cái THIÊN CƠ tức là ngôi nhà cũng nát bét.

CỰ ĐÀ HỒNG LOAN lại có ĐẠI HAO tức là la rát to, hét rất lớn. Lợi cho quảng cáo tất dễ thành công cũng chỉ là bước 1 trong luận đoán.

Bộ CỰ ĐÀ đặc biệt không nằm tại các cung Tý Ngọ Mão Dậu.

Xét về niên can bộ CỰ ĐÀ phức tạp là can Đinh. Vì bộ sao này hình thành đi với KỴ ĐÀ vốn thuộc cách Nhị ÁM

“CỰ MÔN HÓA KỴ giai bất cát”

“CỰ MÔN phùng ĐÀ KỴ tối hung”

 Thuộc cách CỰ MÔN KỴ ĐÀ. Người ta cấm nói, cấm đề cập đến nhưng CỰ ĐÀ KỴ cứ thế mà làm ngược. Cần biết ĐÀ LA là sao thiên về thuận, nhu nhược, mềm yếu dễ trôi theo dòng đời nhưng đi với CỰ MÔN ngôi sao chủ phản mọi cái cứ như đoán ngược, lội dòng nước ngước. Càng cấm càng thích nói.

Can Canh, can Mậu kỵ bộ CỰ ĐÀ đi với bộ CỰ ĐỒNG CƠ có HÓA KỴ.

Các can Kỷ, Tân cũng có nguy cơ gặp bộ CỰ ĐÀ đi với XƯƠNG KHÚC có HÓA KỴ.

Lại xét về niên can Cách CỰ ĐÀ dễ chịu nhất là người tuổi Tân. Do “Tân nhân tái ái CỰ MÔN”. Thật tế nhờ cái miệng mà có tiền.

Các CỰ MÔN tại Mệnh đều giống nhau 1 chỗ là.

Phối cung có THÁI ÂM ngôi sao âm thầm, âm mưu toan tính tốt xấu còn tùy trong khi người phối ngẫu suốt ngày ra rả nói.

CỰ MÔN tại Mệnh tất có THẤT SÁT tại Điền ngôi sao dễ mất nhà hơn là được nhà.

CỰ MÔN tại Mệnh tất có THIÊN PHỦ tại Tử Tức cung. Đó là điều đáng nói nhất. Vì THIÊN PHỦ chủ phán xét, phê phán, thương yêu... Cha, mẹ tôi phản đối như thế là dúng hoặc đa phần là sai. Thành ra các CỰ ĐÀ chẳng tìm thấy hạnh phúc với con cái. Cha mẹ phe cộng hòa, con phe dân chủ.

Những điều giống nhau đó không quan trọng. Nhưng một khi có cách CỰ ĐÀ chình ình tại cung Mệnh sẽ sinh ra cách Cát Xứ Tàng Hung tại cung Tật Ách. Đó là cách PHÁ QUÂN ngộ PHI LIÊM tại cung này cách Phá Tan Tành, bây giờ người ta hay dùng từ “toang”.

 Phú viết “LỘC phùng, xung PHÁ Cát Xứ Tàng Hung”

Vô tình CỰ ĐÀ có 1 điểm chung rất giống nhau. Đang bình yên bỗng dưng thay đổi tất cả, phá vỡ tất cả. Rồi một hôm CỰ ĐÀ nhận thấy mình không giống ai cứ như cách THIÊN ĐỒNG ngộ KHÔNG. Bạn bè có con cái còn mình lại không vì bản thân là tu sĩ, là đồng tính.... Họ bình yên còn mình thị phi. Nói đến thị phi chính tinh là CỰ MÔN chi diệu và bàng tinh là PHI LIÊM. Hóa tinh là HÓA KỴ. Bộ PHI PHÁ bộ sao này đang phá tan tành tại cung Tật Ách. Người ta có nhà cửa còn mình ở mái hiên. Người ta an vui còn mình lưu vong, lưu lạc, vô định. Người ta bình yên còn mình lại có trát đòi hầu tòa... Thế là CỰ ĐÀ buồn. Nhưng nói CỰ ĐÀ là kẻ dị chí không bao giờ thừa nhận. Tui có cái miệng CỰ MÔN phải để tui nói. Tui la là ĐÀ LA, tui hót là HỒNG LOAN, tui hét là ĐẠI HAO... tố cáo là CÁO PHỤ. Bằng không tui đi, tui hạ màn. Hạ màn, hết phim cũng là cách CỰ ĐÀ.

Liệu năm Ất Tị có các CỰ ĐÀ chào đời hay không?

Năm nào cũng có không riêng năm Ất Tị đâu ạ.

Năm Ất Tị sinh các giờ sinh sau đây có cách CỰ ĐÀ tại Mệnh

Các ngày 8 20 và 24

Tháng 1 giờ Tý. + CÁO PHỤ

Tháng 2 giờ Sửu + Quế Sứ Hoa Thương

Tháng 3 giờ Dần.

Tháng 4 giờ Mão. + Mệnh KIẾP Thân KHÔNG

Tháng 5 giờ Thìn + CÁO PHỤ

Tháng 6 giờ Tị + Quế Sứ Hoa Thương

Tháng 7 giờ Ngọ.

Tháng 8 giờ Mùi.

Tháng 9 Giờ Thân + CÁO PHỤ

Tháng 10 giờ Dậu + Mệnh KHÔNG THân KIẾP. + Quế Sứ Hoa Thương

Tháng 11 giờ Tuất

Tháng 12 giờ Hợi.

Có 36 trường hợp có cách CỰ ĐÀ tại Mệnh năm Ất Tị.

Lá số cách CỰ ĐÀ giờ Tý năm Ất Tị

 


Lá số cách CỰ ĐÀ giờ Mão năm Ất Tị.